TRUYỆN KÍ

 

THÁNG BA NĂM ĐÓI

(Tiếp theo)

 

Ðúng 60 năm trước đây, 3-1945 – 3-2005, nạn đói kinh hoàng năm Ất Dậu làm gần 2 triệu đồng bào miền Bắc và Bắc Trung việt tức tưởi ngã xuống như ngả rạ. Nhiều sử sách qui trách nhiệm làm chết gần 2 triệu người dân Bắc Việt cho Pháp thực dân và Nhật quân phiệt đã thu mua, tích trữ, thậm chí dùng thóc lúa đốt thành than chạy đầu máy xe hỏa, cũng như bắt dân ta bỏ lúa trồng đay.

 Những điều đó đều đúng nhưng tác giả chuyện kí này thêm rằng, trách nhiệm còn thuộc về vua Bảo Ðại, lúc đó đang là hoàng đế Việt Nam, cai trị và đại diện người Việt Nam trước Pháp thực dân và quân phiệt Nhật.

 Hoàng đế Bảo Ðại không hề lên tiếng để ngăn chận âm mưu độc ác này của Pháp và Nhật cũng như tìm cách cứu đói khi hàng trăm cái kho chứa đầy gạo ở Hải phòng, Hà nội bị khóa kín, gạo thối rữa thành những đống phân...mà chính tác giả nhìn tận mắt. Cả sau trận đói, hoàng đế Bảo đại cũng không hề có một lời thương cảm thần dân bị chết oan của ông!

Tưởng cũng nên thêm chút tư liệu về đói để bạn đọc tường lãm. NguyệtSan Readers’ Digest trong năm 2003 có đăng:”Trên thế giới đã có 57 triệu người chết đói, trong có 10.5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi. Chỉ trong năm 2003, Nigeria (Châu Phi) mất mùa, nạn đói giết 150,000 trẻ em (không thấy nói người lớn). Cứ 1 phút, trên thế giới có 23 đứa trẻ chết vì đói và mỗi ngày, hàng trăm triệu trẻ em đi ngủ với bụng đói.

Nạn đói ở Bắc Việt năm 1945 là do hậu quả chính sách dã man của thực dân Pháp, lệnh bỏ lúa trồng đay của quân phiệt Nhật và chính phủ bù nhìn, vô trách nhiệm của vua Bảo Đại.  Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC

 

Kì V                          

9

Có một gia đình  mẹ góa con côi, mẹ tôi hết sức giúp đỡ  nhưng cũng không qua khỏi lưỡi hái thần Ðói.  Bác Nâu, tên ông chồng, xưa kia là chân sào đi bè cho ông nội tôi.

 Chuyến bè đó từ Việt trì về, nước lũ chảy xiết, bè dài cả cây số và nặng vậy mà nước cuốn đi băng băng, không nhanh mắt lái tránh các cù lao, các chỗ đường vòng là bè đập vào bờ hoặc tầu bè khác cũng đang đi trên sông, bè sẽ tan ra ngay và tan cả tầu bè của người ta.

Bác Nâu đang đứng trên bè nhìn dòng sông chảy xiết, chợt cái khăn trên đầu bác bị gió thổi bay, bác với tay ra chụp lấy nó nhưng mất đà, bác lao xuống sông. Với một tay đi sông nước nhiều năm như bác Nâu, chỉ sải mấy cái là lại ôm được bè trèo lên, rất dễ dàng. Nhưng không hiểu sao, bác Nâu không nổi lên mà bị nước cuốn đi mất tăm mất dạng. (Sau này người ta đoán có lẽ bác bị nước lạnh, vọp bẻ) 

Cả bè được báo động. Ba người xung phong nhảy xuống sông đi tìm bác Nâu, biết đâu bác tấp vào một cù lao hay bến bờ nào đó. Bè vẫn xuôi, như thông lệ khi có chuyện không may xẩy ra, ba người này sau khi tìm ra tung tích bác Nâu, sẽ dùng đường bộ đuổi theo bè và lên bè.  Nhưng hoàn toàn vô vọng. Những người làm nghề nói khúc sông đó có “rớp”, năm nào Hà bá cũng bắt đi ít nhất một người mới xong.

Ông bà nội tôi giúp bác Nâu gái một số tiền, lại hứa sẽ cho anh con cả đi bè thế bố nếu anh ta muốn. Khi ông bà nội tôi mất, chính mẹ tôi thường giúp đỡ gia đình này. Trận đói chụp xuống, bác Nâu vay vỏ, nhờ vả mẹ tôi đã nhiều nên ngại ngùng.

Một bữa bác mang tới nhà cho mẹ tôi giấy tờ nhà đất để cầm cố lấy tiền về nuôi con. Mẹ tôi nói:

“Chị đừng nghĩ vậy. Em có dư thóc gạo thì em giúp chị nuôi các cháu chứ cầm nhà, cầm đất của chị làm gì ? Gia dình em rồi đây cũng không biết có thóc gạo đủ cầm hơi đến mùa sang năm không. Nhà đất, ngay đến tiền bạc giờ này đều vô nghĩa hết chị à. Em còn nửa thúng thóc đây, chị đội về xay cho các cháu nấu cháo. Em dư dả em không tiếc chị đâu.”

Bác Nâu gái khóc với mẹ tôi:

“Mợ đã quá tốt với chị và các cháu. Mợ cũng giúp mọi người như xưa hai cụ Trùm (ý nói ông bà nội tôi) còn sống. Nhưng mợ ạ, ăn hết chỗ này rồi lấy gì ăn tiếp mà sống đây ? Mợ có lại nhà chị mợ thấy các cháu mợ mới rõ sự tình. Ðứa nào đứa ấy gầy như cái xương đay, hai mắt lỗ đáo. Mợ nhìn tôi là thấy.”

Nói xong bác lại ngồi khóc. Mẹ tôi phải yên ủi:

“Thôi chị ạ. Tai trời ách nước, mọi người đều chịu chẳng phải riêng ai. Người ta chết nhiều lắm rồi. Em nghe người ta kéo nhau lên các thành phố ăn xin đông lắm vì ở thành phố Chính phủ còn bán gạo bông mỗi tháng mỗi người cũng mua được mấy kí-lô. Hay chị và các cháu thử nghĩ xem con đường đó may có sống không?”

“Tiền chỉ còn chút đỉnh, mợ nghĩ 5 mẹ con tôi có lên được tới tỉnh không?”

“Chị ơi, em cũng rối ruột quá, chính gia đình em cũng không biết có ngày mai không. Nếu nhà em không tiếp tế từ Hải phòng về thì có lẽ mẹ con em cũng chết rồi.”

Vài ngày sau đó, bác Nâu cùng 5 đứa con theo một gia đình khác lên tỉnh Nam Định làm hành khất và mẹ tôi không còn gặp bác nữa. Sau vụ đói, có người ở tỉnh về kể chuyện cho mẹ tôi nghe là họ có gặp bác Nâu và hai đứa con, ba đứa đã chết, vài tuần sau bà ta trở lại khu đó hỏi thì người ta nói chị Nâu và hai đứa con còn lại cũng đã chết mấy ngày rồi.

 Với những biến cố khác, người ta bán nhà cửa, đồ đạc lấy tiền sống tạm. Năm đói Ất Dậu, nhà cửa, ruộng đất bán không ai mua. Khi cái bao tử trống rỗng, người ta chỉ nghĩ đến cáí gì có thể bỏ vào đó cho tạm yên sự đòi hỏi. Người đói có thể làm bất cứ hành động nào để giải quyết cho cái bức bách của bao tử kể cả giết người!

Trời rét cằn rét lụn. Những người sống sót vụ đói năm Ất Dậu đều đồng ý sao năm đó rét quá. Có lẽ lạnh một phần vì thân thể đã hết chất thịt, chất mỡ, những chất sinh ra năng lượng để chống lạnh. Cả thân thể chỉ còn da bọc xương nên càng cảm thấy lạnh. Đói và lạnh, hai cái hỗ trợ cho nhau, giết dần con người. Những người canh điền làm việc ruộng nương ở quê tôi - cũng như hầu hết những vùng nông thôn khác - khi no cơm ấm áo, các anh ấy khoẻ mạnh lắm. Nước da nâu dạn dày sương gió, các bắp thịt cuồn cuộn nở nang, nguyên cái bắp vế đã bự sự, gân guốc, cặp đùi to như hai con lợn nhỏ, hai cánh tay cũng to, khoẻ; ngực nở, vạm vỡ có thể vật ngửa một con bê, một con dê lớn hay một con nghé trộng trộng như chơi. Vậy mà bây giờ ? Cái đói đã làm tiêu hao hết, rút cạn kiệt hết. Hai cẳng chân và hai cánh tay như hai ống sậy - người miền Bắc gọi là hai cái xương đay - cần cổ cũng rút lại như cái xương đay thì sao mà sống được. Canh điền làm ruộng cho mẹ tôi, anh Rói, có bữa anh ăn một hơi mười bát cơm dễ dàng. Chẳng phải cơm không mà còn thêm một tô canh lớn, thêm cà mắm, dưa chua, tôm cá vv... Ăn nhiều như thế đến khi không có mà ăn là quị trước. Ðây cũng là những kinh nghiệm đau thương của những người tù cải tạo, nguyên là quân, cán, chính VNCH ở miền Nam, với Cộng Sản sau 30-4-75. To con lớn mã thường bụng to và ăn nhiều. Nay rút lại chỉ còn bằng một phần hai mươi khi trước, lại phải “lao động vinh quang đẵn tre, đẵn gỗ trên ngàn; hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai”; ốm đau không có viên thuốc aspirine, mạng vong là lẽ dĩ nhiên!

10

Xóm tôi, xóm cây Bàng, lấy tên từ hai cây bàng trồng hai bên bến đá mà một trong hai cây ấy, chính tay tôi trồng khi tôi ở tuổi thiếu niên. Nó lớn như thổi vì tôi mướn chú Ðiều trong xóm móc bùn sông lên bỏ cho nó.  Xóm cây Bàng trước trận đói có khoảng trên ba mươi nóc nhà. Có nhà anh em ở chung nên số gia đình khoảng trên bốn mươi. Vậy mà sau trận đói, số gia đình còn lại chỉ khoảng bảy, tám. Trong bảy, tám gia đình đó, chỉ khoảng năm gia đình là toàn vẹn. Ba gia đình kia đều có người chết đói.

Vườn tược không còn thứ rau gì có thể ăn mà bỏ sót. Những cây mồng tơi già chỉ còn trơ mấy cái gốc sần sùi vẫn được cắt về bếp luộc lên nhai. Những cụm rau sam đã hết sạch. Những cụm khoai môn, khoai ngứa, khoai ráy, những củ giong, củ chóc, ngay cả những củ nghệ, củ gừng, củ địa liền, nói tóm lại tất cả mọi thứ có thể nhai nuốt vào bụng được mà không độc, không chết, chỉ trừ lá tre vì chỉ trâu bò mới ăn lá tre, là được chiếu cố tận tình. Ngay như lá lưỡi rắn, chưa biết hay dở thế nào vẫn có người cắt đem luộc ăn, cho con ăn.

Trời cao đất dày ơi! Tôi biết phải tả làm sao để bạn đọc hình dung được, cảm nhận được, thấu hiểu được cái đói vắt ruột vắt gan kết liễu đời con người chỉ trong dăm, ba ngày mà là dăm ba ngày vô cùng đau khổ, thê thiết, tuyệt vọng?

Những ai đã phải nhịn đói lúc đi tầu vượt biển hoặc ở trong tù cải tạo biết được cái đói nó hung ác dã man thế nào! Nó quật người ta như quật một con ngoé. Nó dữ tợn đến nỗi một anh khổng lồ bình thường có thể nhấc bổng cả tạ gạo, lúc bắt nhịn đói mềm người thì yếu ớt như thằng bé mười tuổi. Anh khổng lồ chỉ khoẻ khi trong bụng no, khi cái bao tử đã được thoả mãn.

Lúc còn lúa gạo nghĩa là chưa quá đói, tức khoảng đầu năm 1944, có những người nấu cơm, nắm từng nắm bằng nắm tay đem ra chợ bán kiếm lời cho con ăn. Thúng cơm vừa đặt xuống, lập tức có cả vài chục người nhào tới cướp, bỏ vào miệng, nuốt vội nuốt vàng. Người đàn bà bán thúng cơm đành đứng nhìn cho chúng cướp sạch sành sanh, ngơ ngẩn ra về tay không.  Ngày mai, bà ta lại ra chợ với thúng cơm nắm như hôm nay nhưng có thêm hai người đàn ông cầm hai cây gậy tre đực già, đứng gác hai bên cho bà ta bán. Nhưng chỉ được mấy phút, cả vài, ba  chục con ma đói nhào vào cướp cơm. Những cây gậy phang xuống thân người không nương tay. Những cú đá, cú đạp quyết liệt để đuổi lũ ma đói. Nhưng những người đang đói không còn nhìn thấy gì ngoài những nắm cơm. Họ chịu đòn để cố cướp những nắm cơm thồn vào miệng, nuốt (không kịp nhai), nghẹn trợn trắng con mắt. Hai cây gậy liên tục giáng xuống người họ như mưa bấc nhưng họ vẫn xông vào vồ những nắm cơm. Năm, bảy người chết lăn ra cạnh đó vì trúng những đòn quá đau hoặc phải chỗ nhược. Thúng cơm chưa thu về được đồng bạc nào nhưng trước mặt những người bán là những xác chết, đôi mắt trợn trừng, miệng còn miếng cơm nhai dở lẫn với máu làm đỏ nhoè miếng cơm, có xác vẫn chưa hoàn toàn chết hẳn.

Chính mắt tôi cũng thấy người đàn bà nằm chết bên vệ đường, đứa con dăm, bảy tháng vẫn còn rúc vào vú mẹ, nút lấy chút sự sống. Và cảnh khác, xác người nằm chết bị chó đói, mèo, chuột đói làm thịt. Chúng nhai những mảnh da và cả những khúc xương. Cảnh địa ngục trần gian diễn ra khắp mọi nơi trên toàn lãnh thổ Bắc Việt vào đến Thanh Nghệ Tĩnh, con người ở vào đường cùng tìm mọi cách xâu xé nhau, cướp giật, trộm cắp để kiếm lấy cho mình một chút sự sống cho chính mình mà không là ai khác như người ta thường nói:”Cha bỏ con, anh bỏ em, đầy tớ bỏ thầy.” Có còn cảnh nào thảm hơn không?

11

Biết miền quê khó lòng chịu đựng nổi, thầy tôi cho người về tiếp tế cho mẹ tôi và đón hai anh em tôi ra Hải phòng.

Nào Hải phòng có hơn gì thôn quê. Và cả Hà Nội nữa. Mỗi buổi sáng, xe vệ sinh (xe hốt rác) của thành phố đi gom nhặt các xác chết nằm rải rác trên đường, trong công viên, nhà ga xe lửa, chợ, sân trường, sân nhà thờ, ngay cả trước các cánh cổng tư nhân vv... chất đống trên xe như đống rác đem ra ngoại ô đào lỗ, thẩy tử thi xuống, rắc vôi bột lên xong lấp lại.

Vì xung phong gia nhập “Đoàn Thanh Niên Cứu Đói”, hằng ngày đã có gặp, chúng tôi dễ làm quen với ông tài xế và hai người phu trên một cái xe hốt xác. Ðược hỏi, ông tài xế trả lời:

“Ngoài xe chúng tôi còn hai xe nữa cũng đi hốt xác cả ngày. Mỗi chuyến xe chở được từ 30-40 người, có khi hơn vì người nào người nấy chỉ còn bộ xương khô. Ngày đi đổ xuống hố dăm, sáu chuyến là thường.

Những hố chôn tập thể, có hố dăm, bảy trăm, có hố cả ngàn hoặc vài ngàn. Không thể nào đếm được. Thảm thương lắm các cậu ạ. Có người còn ngắc ngoải, chưa chết hẳn nhưng chúng tôi làm gì được đây? Phải là cơ quan y tế săn sóc cho ăn uống, thuốc men, họ mới sống được vì đã yếu quá rồi!”

Một người khác:

“Phải có công việc gì thì chúng tôi cũng bỏ cái nghề đi lượm xác này vì vừa làm vừa thấy thương lắm dù họ không phải ruột thịt bà con dòng họ, làng nước gì với mình nhưng là cái nghĩa đồng bào trong cơn hoạn nạn với nhau. Hồi đầu tôi không làm được vì cứ nhìn họ là chảy nước mắt. Qua cả tuần, người chết qua tay nhiều quá nó mới quen đi.”

Người phu này nói đúng. Các Thanh niên chúng tôi cũng không hơn gì ông ta. Ðến những khu người chết, người sống lẫn lộn, người nào trông cũng như con ma đói, chẳng còn một tí gì gọi là con người, chúng tôi mủi lòng nước mắt lã chã tuôn rơi. Nhưng rồi anh đội trưởng ra lệnh bắt tay vào việc phát cơm, chúng tôi vui vẻ làm phận sự vì đang mang đến niềm vui và sự sống cho họ.

Mỗi ngày một người chỉ được phát hai nắm cơm nhỏ, người lớn, trẻ con như nhau. Những đứa trẻ chưa biết nhai thì mẹ nó nhai cơm mớm cho nó chứ làm gì có sữa. Trưa phát một lần, khoảng 5 giờ chiều phát lần nữa vì nếu phát cả hai nắm buổi sáng, hầu hết ăn luôn cả hai, tối lại đói meo. Bịch muối để ở giữa nhà, ai cần thì tự động đến lấy cái muỗng để sẵn múc vào bàn tay. Chúng tôi cũng dặn họ đừng ăn mặn kẻo khát nước, uống nưóc nhiều vào, bụng đang yếu, nước chỉ là nước máy chưa đun sôi e sinh tiêu chảy. Cơ thể của họ trục trặc nặng nên rất dễ sinh ra đủ chứng thổ tả, tiêu chảy, kiết lị, những bệnh về đường ruột.

Cũng có thể vì chúng tôi cho họ ăn từ từ, đói đói mà hầu hết những người đó sống qua trận đói chứ không như ở vùng quê, không được chỉ dẫn, nhiều người đã chết no (xin đọc ở dưới).

Pháp nhìn thấy nạn đói, biết rõ dân Bắc Việt sẽ chết cả triệu nhưng Pháp nhẫn tâm làm ngơ không mở kho gạo ra bán hoặc phát cho dân nghèo thành phố mà chỉ nhỏ giọt để giúp cư dân thành phố - Pháp cai trị trực tiếp - khỏi chết đói, nghĩa là căn cứ vào Sổ Gia đình do Khu phố thiết lập, mỗi người mỗi tháng được mua 10-15kg gạo chẳng hạn (tôi đã quên con số chính xác). Người không có địa chỉ tức không có Sổ Gia đình không được mua. Từ sự hà tiện gạo đó, Ðoàn Thanh Niên Cứu Ðói cũng phải “thắt lưng buộc bụng” chỉ giúp những người đói qua được cơn ngặt nghèo mà thôi 

Như đã trình bày, hầu hết những người chết đói ở thành phố là  dân miền quê lên tỉnh xin ăn, mặc dù ở Hà nội, Hải phòng có những đoàn Thanh niên, Sinh viên Cứu đói đem cơm nắm đi phát nhưng không xuể vì người đói quá đông. Vả lại, đã quá đói lại thêm cái lạnh thấu xương, ngủ bờ ngủ bụi, dơ bẩn, mất vệ sinh tháng này qua tháng kia, người đã quá yếu, vi trùng xâm nhập dễ dàng và đột quị cũng dễ dàng. Cũng có những người nếu gặp được Ðoàn Cứu Đói sớm một đêm thì sống, để qua trưa hôm sau đoàn Cứu đói đến thì đã ngoẻo đầu ngồi chết cạnh bờ tường một ngôi chợ.

Tôi để ý và lấy làm lạ, hầu như 80% những người chết người nào cũng chỉ phong phanh một cái áo cánh, một cái quần. Họ không có lấy một cái áo ấm để chống lạnh làm sao chịu nổi với cái rét “chết cá dưới ao” của Bắc Việt? Người miền quê không có tiền sắm áo len, áo dạ mà chỉ áo bông, áo mền, áo đụp. Có thể đi dọc đường, họ đã đánh mất hoặc đổi lấy cơm ăn cho những kẻ còn cơm gạo trên các nẻo đường. Thường bụng đói bao giờ cũng lạnh hơn bụng no và người béo bao giờ chịu lạnh cũng khá hơn người gầy còm  mà tháng Ba đói năm Ất Dậu, ai đã sống qua cũng đều nói sao cái năm ấy nó  rét “tản thần” vậy!

Không nghĩ gì đến chuyện học - đồng bào chết lăn cả ra nhan nhản khắp góc phố ai có thể bình tâm ngồi học? Mà học để làm vua làm quan gì?

Tới Hải phòng ngày hôm trước, hôm sau hai anh em tôi xung ngay vào “Đoàn Thanh Niên Cứu Ðói” do thầy tôi khuyến khích mà thầy tôi cũng đang là một thành viên trong Ủy Ban Cứu đói của thành phố. Ủy Ban này thường chia từng Nhóm dăm người đi gõ cửa các nhà giầu, nhà hảo tâm xin gạo để cứu đói. Thầy tôi nói những bệnh nhân có máu mặt của thầy tôi đều được Ủy Ban, do sự hướng dẫn của thầy tôi, đến tận nhà xin giúp đỡ. Người ít kẻ nhiều, ai cũng muốn góp phần vào công cuộc cứu đói đang hết sức khẩn thiết. 

Hôm đến xin gia nhập, anh Trưởng đoàn Cứu Đói tên Tựu phát tạm cho mỗi người một bộ quần áo đồng phục, áo sơ-mi dài tay bằng vải kaki Nam định mầu vàng, dầy, có thêm cầu vai như quân đội, quần kaki xanh lá cây già, một cái mũ như mũ Hướng Ðạo mầu xanh già có quai rịt xuống cằm, một huy hiệu tròn đeo trên ngực có chữ “Thanh Niên Cứu Ðói” và cái nơ vàng hai giải dài khoảng gang tay đeo ở vai trái. Tuy nhiên, vì thời tiết quá lạnh, chúng tôi thường phải mặc thêm áo ấm bên ngoài.

Chi đoàn chúng tôi lấy tên Quang Trung, đoàn viên khoảng 42 thanh niên nam nữ, mỗi sáng đúng 8 giờ tập họp tại nhà anh Ðoàn trưởng ở phố Cầu Đất, điểm danh, ghi công đàng hoàng. Cơm đã được các nhà nhận thổi và nắm lại từng nắm bằng nắm tay nhỏ nhỏ to khoảng ba cái trứng gà. Cơm vừa nắm xong còn nóng hổi, chúng tôi nhận mỗi người 40-50 nắm chất đầy vào ba-lô xong lên đường.

Bốn mươi hai người chia ra làm 8 đội từ 1-8, mỗi đội được phát một miếng giấy ghi rõ lộ trình và chỉ được hoạt động trong các khu phố thuộc lộ trình đó mà thôi để tránh sự trùng hợp vì người đói quá nhiều mà cơm gạo chỉ có hạn. Khẩu hiệu của chúng tôi là:

Miếng khi đói bằng gói khi no”

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

 Người trong một nước phải thương nhau cùng”

 

 Hoặc:”Bầu ơi thương lấy bí cùng,

 Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

Ngày nào không đi phát cơm, chúng tôi đến những thương gia, những nhà giầu có quyên gạo, quyên tiền, để anh Trưởng Ðoàn điều động người đi đong gạo rồi giao cho những nhà lãnh nấu.

Chúng tôi luân phiên công tác, mỗi người đều được tham dự cả hai phần vụ nếu muốn và trong đoàn thì nam nữ làm việc chung, tinh thần yêu nước, yêu đồng bào rất cao. Tuy chúng tôi không giúp hết được những người đói nhưng chúng tôi cũng đã cứu sống được cả chục, cả trăm ngàn người. Sau này trên báo chí còn  đọc những lời đăng cám ơn rất cảm động. Nhiều người nói nếu không có Ðoàn Thanh Niên Cứu Ðói, số người chết còn nhiều nữa. Ở Hải Phòng lúc đó có khoảng 12 Đoàn như Đoàn Quang Trung của chúng tôi phân phối đi phát khắp hang cùng ngõ hẻm và cả ngoại ô.

Tôi không làm việc ở thành phố Nam định (tỉnh nhà) nên không biết đoàn Thanh Niên Cứu Ðói tỉnh này hữu hiệu đến đâu và cũng không biết những người làng, người tổng tôi có lên tới Nam Ðịnh mà xin ăn không.

Năm 1947, khi tôi trở lại làng mới biết được rất nhiều gia đình đã chết đói.

Dù sao, gần hai triệu đồng bào ruột thịt miền Bắc đã làm mồi cho thần Ðói bởi chính sách tàn ác của quân phiệt Nhật và thực dân Pháp. Chính những yếu tố này làm sục sôi thêm lòng căm thù ngoại bang khi cuộc Tổng khởi nghĩa 19-8 nổ ra như một quả bom dội vào đầu quân thù.

Ông Hồ chí Minh thành lập Chính Phủ Liên hiệp mà ông là Chủ tịch, ông Nguyễn hải Thần là Phó chủ tịch, Nhà Văn Nhất Linh Nguyễn tường Tam Bộ trưởng Ngoại giao, có cả ông Vũ hồng Khanh. Quốc hội khóa I, nếu tôi không lầm có cả Nhà văn Nguyễn mạnh Côn (tác giả Ba người lính nhảy dù lâm nạn, Mối tình mầu hoa đào...). Những Bộ, Sở quan trọng như Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin Tuyên truyền - những bức tường thành để củng cố chế độ -  Việt Minh nắm giữ cả. Tôi còn nhớ ông Trần huy Liệu, một đảng viên Cộng sản, lúc đó nắm giữ Bộ trưởng Thông tin Tuyên truyền. Mọi chính sách của Chính phủ, mọi công việc chung nhân dân phải thực hiện đều do các loa phát thanh ra rả tuyên truyền đêm ngày ở khắp mọi nơi.

Việc đầu tiên của Chính Phủ ông Hồ - hay do chính ông Hồ -  tịch thu tất cả sách báo Pháp ngữ cũng như Việt ngữ xuất bản từ 1945 trở về trước đem đốt hết, nói rằng đó là tàn dư chế độ thực dân phong kiến bóc lột. Bao nhiêu công trình Văn hóa, nghiên cứu tâm huyết nhiều đời nay chịu thiêu rụi như đời Tần thỉ Hoàng với những thậm từ phỉ nhổ từ những kẻ chưa từng biết Văn hóa là gì. Nhà Văn Khái Hưng (Nửa chừng xuân, Hồ bướm mơ tiên...) bị bỏ vào bao bố thả trôi sông Ninh Cơ,  (nghe nói ở khoảng Lạc quần). Học giả Phạm Quỳnh bị giết; cha con ông Ngô đình Khôi, anh ông Ngô đình Diệm sau là Tổng Thống VNCH cũng bị giết. Nhiều nhà cách mạng thuộc VNQDĐ, Đại Việt v.v...bị giết hoặc phải trốn chui trốn nhủi. Xã trưởng, Ấp trưởng làm việc cho Quốc gia cũng bị thủ tiêu nếu trốn không khéo. Xả trưởng xã Trà Bắc ngay kế làng tôi cũng bị nửa đêm dẫn đi, hai viên đạn vào ngực với tấm bìa “Việt gian phản động” ghim trên ngực áo. Nạn đói mới xong thì lại đến nạn “huynh đệ tương tàn”. Ai cũng thấy, cũng kinh hoàng.

Chương trình Pháp ở các thành phố dĩ nhiên bị bỏ. Sách Giáo khoa trước đây toàn là sách Pháp, dùng để giảng dạy học sinh, sinh viên. Nay bỏ hết nên nếu còn nhà giáo nào theo đuổi và được chấp thuận cho dạy thì cũng lúng túng vì thiếu sách giáo khoa Việt ngữ. Nếu muốn chuyển ngữ cũng mất một thời gian dịch thuật, in ấn, phát hành mà cơ quan đảm trách việc này là Bộ Giáo dục thì không hữu hiệu để lo. Tiền, gạo nếu có, Chính phủ Việt Minh còn lo mua vũ khí, nuôi bộ đội để thực hiện những mưu đồ lớn lao theo tiêu chí Cộng sản quốc tế, đâu có dùng để in sách, mướn thầy dạy học cho dân? Phong trào bài Pháp còn đi đến chỗ cực đoan, tiếng Pháp bị coi là ngôn ngữ của đế quôc thực dân, ai có chút vốn liếng tiếng Pháp đã học khi xưa cũng phải giấu đi, quên đi, lờ đi nếu không muốn bị kỳ thị, bị khinh khi như phản động Việt gian hoặc nhẹ hơn, có đầu óc nô lệ ngoại bang. Người đàn bà ở làng tôi cắp rổ đi chợ bị du kích xã bắt, cùm chân, trói tay vì trong rổ bà ta mua có một ít rau xanh, mấy củ cải trắng và một quả gấc chín đỏ thẫm để theo thứ tự đó. Du kích bảo đó là cờ tam tài xanh trắng đỏ của Pháp, tên nữ Việt gian này làm dấu hiệu cho phi cơ Pháp đến đánh phá!

12

Lúc còn Pháp thuộc, thầy tôi hoạt động Cách mạng với các đồng chí của ông tích cực hơn, dễ dãi hơn là sau ngày 19-8-45, khi Việt Minh công khai xuất đầu lộ diện mặc dù lúc đó ông phải trốn tránh Mật Thám Pháp. Vì còn quá nhỏ, tôi thực không rõ thầy tôi ở trong đảng phái nào. Chỉ biết ông đã sang Tàu và Nhật hồi phong trào Đông Du rầm rộ. Mẹ tôi có lẽ biết ít nhiều nhưng sợ con trẻ lắp bắp làm hại thầy tôi nên chỉ ừ ào cho qua khi chúng tôi hỏi. Khi tôi đã trưởng thành, trên 20 tuổi và mẹ có thể tin tôi được thì lúc đó tôi ở Hà Nội, rồi theo đoàn người di cư vào Nam; còn mẹ tôi vẫn cứ phải gắn bó với ngôi nhà (vì thầy tôi là con trai duy nhất của ông bà nội), thửa vườn và vài mẫu ruộng tư lo cho các anh chị tôi còn ở thôn quê cũng như thực hiện lời phó thác của thầy tôi khi ông xa nhà là cố giữ gìn sản nghiệp ông bà tôi để lại cho. Ít năm sau, thầy tôi mất nên những gì về cuộc đời hoạt động bí mật kháng Pháp của ông cũng theo ông ra đi vĩnh viễn.

 Có một điều tôi biết chắc chắn vì ông có nói với tôi về ông Hồ chí Minh, ngày đầu tiên ông Hồ từ Hà Nội xuống Cảng, xuất hiện trước đồng bào Cảng sau ngày Tổng Khởi Nghĩa của toàn dân 19-8-45. Khi hai bố con tôi cùng rất đông cư dân thành phố Hải Phòng đi nghênh đón và đến Nhà Hát Lớn nghe ông Hồ nói chuyện, thầy tôi bảo tôi một câu mà tôi còn nhớ đời:

“Rồi con coi đi! Bây giờ hoan hô ông Hồ cho lắm sẽ có ngày chính đồng bào mình chửi ông ấy nhiều. Vả lại thầy coi “tướng” thì thấy ông ta là người gian hùng, quỉ quyệt, quá nhiều tham vọng. Có thể sau này ông ta sẽ bán nước nữa.”

Tôi nghe bố nói mà hoang mang vì trong lòng, tôi cũng kính yêu bác Hồ lắm. Không lẽ một nhà cách mạng được báo chí và mọi người ca tụng  là suốt đời hi sinh cho đại nghĩa dân tộc, chịu cực chịu khổ trong chiến khu, ăn mặc rất bình dân tầm thường (quần áo kaki vàng, hình như đội nón cối?) không bao giờ có vợ con vì nguyện suốt đời hi sinh cho dân tộc, đứng lên kêu gọi toàn dân đuổi Pháp giành Độc Lập, hứa hẹn mang lại Tự Do, No ấm và Hạnh Phúc cho toàn dân, lại có thể là con người như thầy tôi nói với tôi? Tôi vốn kính trọng thầy tôi, rất để ý những lời thầy nói nên dù lén thầy mẹ xung phong vào đoàn thể này, đoàn thể kia cho thỏa chí trai, nhưng vẫn để tâm xem xét sự việc. Chẳng bao lâu tôi đã tìm ra cái cốt lõi của cụ Hồ là đệ tam Cộng sản quốc tế (từ 2 cuốn sách tôi được tặng) và từ đó, lòng quí trọng cụ nơi tôi giảm dần khi tôi thấy dân tộc Việt Nam không thích hợp với chủ nghĩa Cộng sản vì còn rất đông đồng bào không theo đạo này thì theo đạo khác, nghĩa là hữu thần chứ không vô thần như ông Hồ và đảng của ông. Dân tộc Việt Nam cũng gắn bó với gia đình, thờ cha kính mẹ, tôn trọng lễ giáo tiết nghĩa mà người Cộng sản, theo cuốn sách họ phát cho tôi, bỏ hẳn gia đình, bỏ cả tổ quốc để chỉ còn thế giới đại đồng. Chính vì hai cuốn sách Mác-Lê được tặng, tôi đã bỏ giờ đọc và nhận ra rằng những lời thầy tôi nói về ông Hồ quá đúng và tự nghĩ, nếu tôi không sáng suốt thì những gì tôi sẽ hi sinh, đất nước sẽ chẳng được hưởng mà chỉ ông Hồ và đảng của ông được lợi. Ngày nay, khi đã lớn tuổi, đã kinh qua nhiều chế độ và rút được khá nhiều kinh nghiệm, tôi nghiệm ra rằng, tôi vẫn còn may mắn hơn nhiều triệu đồng bào của tôi, khi “bừng con mắt dậy thấy mình tay không!” lại còn đắc tội vời Tổ quốc, trong đó đau đớn nhất là những thành viên trong Mặt Trần Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam như Lâm văn Tết, Dương Quỳnh Hoa, Lê đức Thọ, Nguyễn bửu Kiếm(?), Trịnh đình Thảo... và cả những đồng viện của tôi ở Hạ Nghị viện Việt Nam Cộng Hòa như Phan Xuân Huy, Kiều mộng Thu, Hồ ngọc Cứ, Lý quý Chung, Nguyễn ngọc Nhuận, Vũ văn Mẫu (Giáo sư Đại học) Hồ văn Minh, Trần văn Tuyên và Nhóm Đối lập của ông, Nguyễn văn Binh và Nhóm Quốc Gia Hạ Viện, ông sư giả dạng Trí Quang và cả nhạc sĩ tài danh Trịnh công Sơn v.v... Tôi nghĩ không danh sách nào có thể liệt kê hết những người bị lừa.

Thế hệ chúng tôi đả bị lừa” bị lừa một cách đau đớn như lời nhà văn Dương Thu Hương nói khi bà ngồi khóc bên vệ đường Sàigòn ngày 30-4-1975 lúc quân đội người anh em Bắc Việt vào cưỡng chiếm Sàigòn, biến cả nước thành một trại tập trung khổng lồ đói khổ chưa từng có trong lịch sử Dân tộc Việt. Khi hỏi vì sao bà khóc, bà nói:”Tôi khóc vì cái ác thắng cái thiện, cái mọi rợ thắng cái văn minh!”

13

Lại nói lúc đó mẹ tôi đang buôn bán ở thôn quê để tìm sinh kế cho gia đình. Mẹ tôi mở một tiệm thuốc cao đan hoàn tán, dùng những bài thuốc của thầy tôi để chữa bệnh cho người lớn, trẻ em những bệnh thông thường như cảm mạo, đau bụng, tiêu chảy, nhức đầu, phong thấp hoặc thuốc bổ cho những người gầy yếu, kém ăn kém ngủ, thuốc ngâm rượu, cao ích mẫu v.v... Gian hàng ngay kế đình làng nhìn ra chợ.

Cách tiệm mẹ tôi dăm chục thước cũng có một tiệm cao đan hoàn tán khác, người chủ Tầu lai, tên là ông Trừng. Trước kia, ông Trừng làm nghề bán sơn ta và mấy thứ lặt vặt khác, ông ta chưa hề theo học Đông Y nhưng sưu tập được ít nhiều đơn thuốc của nhiều người cho bèn mở tiệm Đông Y chắc mẩm sẽ có đông khách. Nhưng vì dân hàng tổng biết rõ ông không có nghề thầy thuốc nên họ không đến mua thuốc, mua cao của ông mà chỉ đến tiệm của mẹ tôi.

Ông Trừng bèn thuê người phao lên rằng chỉ có thầy tôi mới biết thuốc men mà thầy tôi vắng nhà nên mẹ tôi bán những thứ thuốc không phải gia truyền, không công hiệu gì.  Dù thế, bệnh nhân đến tiệm mẹ tôi ngày một đông, thuốc hoàn tán làm không kịp cho khách đặt mua (lúc đó tán thuốc bắc bằng chày cối đá, rất chậm; sau này có thuyền tán, nhanh hơn nhiều). Nói xấu không xong, ông Trửng dùng cách khác. Một đêm ông cho ba người đàn ông đem búa, rìu, dao rừng đến phá căn tiệm của mẹ tôi. Căn tiệm này chỉ ban ngày mẹ và chị tôi ỏ đó bán hàng, tối khoá cửa về nhà ngủ vì nó không có tiện nghi để ngủ lại.

 Ba thủ hạ của ông Trửng phá cửa, xông vào đập phá những chai lọ đựng thuốc nát nghếu ra hết, sau đó rút lui. Không may cho họ, vừa ra khỏi thì ông Trương tuần Điển và tuần tráng ập tới, bắt cả ba trói lại điệu về trụ sở giam lại, hôm sau lý trưởng đến làm biên bản giải huyện. Ba người này khai họ được ông Ðông y sĩ Trửng mướn làm. Ông Trửng bị bắt giải lên huyện. Ngay sau khi tuần tráng bắt được ba hung thủ, có người quen đã dến báo cho mẹ tôi hay. Mẹ và hai chị lớn tôi ra đình coi ngay nhưng không vào trong căn tiệm vì để cho nhà chức trách lấy dấu tay. Mẹ tôi cũng bị đòi lên huyện để phỏng vấn. Cuối cùng Ðông y sĩ Trửng bị hai năm tù và hai mươi đồng tiền phạt. Lại phải đền các thứ hư hỏng cho mẹ tôi. Từ vụ đó, mẹ tôi dặn chúng tôi ai đối xử với mình ra sao tùy họ nhưng mình cứ điều tốt mà làm, ắt ông trời không phụ.  

Thời gian đó, thầy tôi vẫn đi biền biệt, lâu lâu mới có người về đưa tin để mẹ và chúng tôi yên lòng.

14

Trở lại với trận đói , sau khi gần hai triệu đồng bào Bắc Việt bị thần Ðói mang đi, mùa lúa năm đó lại thu hoạch khá, người nào sống sót không bị đói nữa.  Nhưng hết chết đói, đến bây giờ lại chết no.

Thực vậy, có nhiều người, vì đói quá lâu ngày, nay được ăn cơm, dù thức ăn đạm bạc, họ ăn không biết no. Tôi đã chứng kiến tận mắt một thanh niên cũng khoảng 17 hay 18 tuổi, đến nhà một người quen làm việc vặt trong nhà và ngoài vườn cho chủ nhà. Người chủ nói, bữa ăn dọn lên, anh ta ngồi ăn hết nguyên một nồi cơm lớn cộng thêm mấy bát canh mồng tơi nấu cua và cà ghém, tép kho.

 Ăn xong, mặt mũi anh ta tự nhiên đỏ ké, hai mắt trợn trừng, cái bụng phình chướng như người đàn bà sắp sinh, nằm vật vã ít phút rồi chết.  Khi tôi đến gặp người chủ nhà thì anh ta mới chết, còn đặt nằm ngay trên phản. Người ta giải thích, sở dĩ chết vì cái bao tử trống rỗng đã lâu, nay phải cho vào từ từ. Ðúng ra phải nấu cháo cho ăn vài bữa cho quen, sau đó ăn cơm ít ít một, sau vài ba ngày mới được ăn no. No đây là vừa đủ, ba bát chẳng hạn. Ðàng này nồi cơm cả mười mấy bát ăn vào một hơi, bao tử còn đang yếu, nó bị nứt ra, đâu có chịu nổi?

Nhờ mẹ tôi biết tần tiện “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” và sự tiếp tế khéo léo và đều đặn từ thầy tôi như tiền bạc và gạo, gia đình tôi năm đói không mất một ai. Cũng phải thêm một điều, thường ngày chúng tôi không ăn nhiều nên khi thiếu thực phẩm, chúng tôi nhịn được. Những gia đình nông dân xưa nay quen ăn no, vác nặng, họ ăn gấp hai, gấp ba chúng tôi, nay bị đói, không chịu được, rất dễ mệt lả. Cũng có người vì đói quá lấy rau, lá, cỏ nhai bị thứ cỏ độc là vong mạng. Vỏ củ khoai mì rất độc, có những anh em tù nhân chính trị đi tù cải tâo chết vì vỏ khoai mì.

Anh em H.O kể chuyện dùng chảo gang lớn luộc khoai mì. Khoai chín, vớt ra. Ðội khác lại bỏ khoai mì vào luộc, dùng ngay nước đã luộc cho nhanh vì anh em đi làm về, ai cũng đói, cũng muốn ăn ngay. Mẻ khoai mì trước, chất độc thải từ vỏ ra ngấm vào mẻ khoai sau, anh em sống sót kể lại, sau khi ăn, buổi tối đó, 16 anh đau bụng, dữ dội, ói mửa rồi lăn đùng ra chết vì chất độc quá đậm. Bụng trống, chất độc hoành hành mạnh hơn. Thuốc tây, thuốc ta đều khuyên người bệnh nên ăn uống chút gì rồi hãy uống thuốc, bớt “say” thuốc hơn  là khi để bụng đói mà uống.

Thầy tôi đã rất dụng công khi chuyển gạo từ Nam định về làng cho mẹ tôi để nuôi chúng tôi. Mẹ tôi kể thầy tôi có vài người đồng chí đi kháng Pháp cùng nhau đã lâu. Hai bác này có gia đình buôn bán ở chợ Rồng thành phố Nam định. Như tôi đã trình bày, dân thành phố được tiếp tế đều đặn khi có sổ gia đình, nghĩa là đã cư ngụ sáu tháng trở lên ở một địa chỉ được khu, phố chứng nhận. Mỗi tháng mỗi đầu người trong gia đình được mua mươi lăm kí gạo, mấy gram muối đủ ăn trong một tháng. Cầm sổ gia đình đến những tiệm buôn gạo, nơi đã lãnh gạo của nhà nước, trả tiền là người ta phát gạo. Tuy vậy, những tiệm buôn gạo vẫn có dư gạo bán chợ đen cho người có tiền. Thầy tôi nhờ hai bác “đồng chí” mua giùm gạo, do thầy tôi đã gửi tiền bằng “mandat” về, lại mướn người mỗi lần đưa mươi lăm, vài chục kí, khéo léo ngụy trang dưới những bộ quần áo rách... đem về cho mẹ tôi. Những người này được trả công tử tế nên họ sẵn lòng đi. Vả lại, từ chợ Rồng Nam định về làng tôi chỉ chừng 30 cây số, vừa đi vừa về một ngày, người đàn bà đội 15-20 kí gạo trên đầu đối với họ rất nhẹ nhõm. Tới nơi, mẹ tôi lại đãi ăn uống và cho thêm chút tiền hay quà bánh mang về.

Lúc đó Việt Minh chưa xuất hiện, Pháp bị Nhật đảo chính ngày 9-3-45, hệ thống hành chánh xã thôn do Pháp thiết lập như rắn mất đầu không còn canh gác hữu hiệu như trước. Dân buôn bán tha hồ đi lại, không ai khám xét. Và vì vậy, mẹ, các anh chị và tôi mới thoát nạn đói.

Qua nạn đói, (khoảng mùa Thu năm 1945), khi thầy tôi sai tôi hướng dẫn mấy nông dân đi mua phân về bón lúa, tôi mới thấy rõ tâm địa ác độc của thực dân Pháp và quân phiệt Nhật.

Như tôi đã mô tả trong truyện ngắn:”Năm Mùi nhớ chuyện tiết canh dê” (2003), mấy nông dân nguyên là bệnh nhân của thầy tôi ở ngoại ô Hải phòng như Cầu Rào, Trại Cau, bên kia bến đò Bính v.v... muốn mua phân về bón ruộng. Tôi nghĩ thầy tôi đọc báo nên biết mà sai tôi dẫn mấy người này ra bến Sáu Kho Hải phòng chỉ cho họ mua. Nhờ có bảng chỉ dẫn bằng tiếng Pháp, tôi đưa ba người này vào những cái kho lớn (có lính Tây đứng gác) như cái siêu thị Mỹ ngày nay, trong đó những đống đen đen, xám xám cao tới nóc nhà do gạo để quá lâu ẩm mốc, thối rữa mà thành. Cũng có chỗ gạo còn nguyên hột dù đã đổi mầu. Mùi ẩm mốc xông lên nồng nặc. Pháp nghĩ sao không hiểu bèn bố cáo lên bán cho nông dân đem về bón lúa mà chúng nói rất tốt. Cả mấy chục cái kho lớn như thế tại Sáu Kho, kho nào cũng đầy ắp “phân”, thảo nào dân ta không chết đói? Nhìn những kho phân đó mà căm giận bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật đến xương tủy. Nông dân bảo nhau nên ngày hôm sau, một đám khác gần chục người tới; tôi lại dẫn họ đi mua.

Giả sử vua Bảo Ðại, lấy tư cách là Hoàng đế Việt Nam, đích thân can thiệp với Pháp và Nhật phải để ông mở kho phát gạo cho dân chúng thì có lẽ Pháp và Nhật không từ chối được vì là lí do chính đáng. Nếu chúng không ưng, ông chỉ doạ cho dân nổi loạn đến cướp là chúng sẽ co vòi. Nhưng ông không làm gì, ngay cả đi quan sát dân tình lúc dầu sôi lửa bỏng. Tôi chưa từng thấy một ông vua nào bù nhìn đến thế, một cái nhục lớn cho triều Nguyễn.

Nếu những kho gạo này được mở ra, thiếu gì cách để phân phối gạo một cách công bình. Thí dụ những người có tiền có thể mua theo Sổ gia đình. Dân nghèo quá thì phát không. Các tỉnh thị, các vùng nông thôn như phủ huyện, gạo đều được vận chuyển tới.

Với hàng trăm cái kho lớn như thế do sự thu mua, tồn trữ lâu ngày từ người Pháp (có lẽ để tiếp tế cho quân đội Nhật, theo lệnh Bộ chỉ huy Nhật nhưng ngay sau đó Nhật phải đầu hàng Đồng Minh, bị tước khí giới và đi làm tù binh nên số gạo này chưa kịp dùng), nếu được mở kho bán, phát, dân ta sao có thể chết đói được? Giả sử có thì cũng chỉ ở những nơi xa xôi khó vận chuyển và số người chết cũng chỉ sơ sài mà thôi, đâu có lên cả hai triệu người?

Vì chiến tranh lan tràn khắp nơi, tôi phải theo gia đình di tản đến những miền thôn quê bớt bom đạn nên không biết sau đó số phận những kho “phân” này ra sao vì nông dân không có tiền và không cần mua nhiều thứ “phân” này để bón ruộng. Tôi cũng để ý theo dõi nhưng không thấy báo chí nhắc đến những cái kho này mà ở những thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình đều có, theo lời thầy tôi.

Xóm cây Bàng - nơi tôi ra đời - sau năm đói trông vắng tanh vắng ngắt như chùa bà Ðanh. Bộ mặt xóm cũng thảm não như vừa qua một trận bão lớn hay một trận hỏa tai, khác hẳn với trước kia thật đông vui, người đi kẻ lại, trẻ con chơi đùa trên sân điếm canh, dưới bóng mát cây bàng, trên con đường tráng xi-măng xuyên từ đầu xóm đến cuối xóm. Tiếng ru con êm đềm, truyền cảm của các bà mẹ quê. Tiếng xay thóc ù ù, giã gạo bịch bịch. Tiếng sáo diều vi vu trên không những đêm hè, tiếng hò hát của trai gái đối đáp và tiếng lạch bạch bì bõm những mái chèo khua tan ánh trăng thu trên con sông phía trước. Còn ngày Tết? Tiếng thớt băm rổn rảng, người gọi nhau ơi ới đi đánh đụng lợn, đi gói bánh, luộc bánh chưng đi lễ Phật, đi nhà thờ v.v...

Những hình ảnh, âm thanh thân thương, tha thiết đó nay đã chìm vào dĩ vãng và chẳng biết bao lâu nữa mới trở lại được như xưa. Những thằng bạn cùng trang lứa với tôi cũng biến mất, Có lẽ chúng đã chết đói mà nếu còn sống thì đang tha phương cầu thực ở một phương trời lạ hoắc lạ huơ nào!

15

Tôi không được gặp anh chị Thường và các cháu trước khi đi Hải phòng vì đi quá vội và đi như đi trốn nên từ ngày đó tôi không hiểu tình trạng gia đình anh chị ấy ra sao.

Tôi nhớ lần cuối cùng tôi đến nhà anh chị Thường chơi là vào mùa hè năm 1944.

Bữa đó mẹ tôi thổi cơm nếp đậu xanh và làm bánh trôi nước. Ðám con anh chị Thường hiện ra trong trí mẹ tôi - bà vẫn có tật như vậy - nên mẹ tôi xúc nhiều gạo và đậu lên, còn một ít bột nếp cho cả vào cái thố trộn nước và ngào. Hôm ấy mẹ tôi không còn đường thẻ để làm bánh mà chỉ còn một ít mật mía để trong vại đã khá lâu. Mẹ và hai chị tôi, người lo nồi cơm nếp, người làm bánh.

Cũng chẳng phải sang gì trong khi ngàn vạn người đói nhưng cái năm đói đó lạ lắm. Ăn lúc nào cũng được, ăn xong một lát lại thấy đói bởi mỗi bữa đâu có được ăn no. Không thịt, không tôm cá, chỉ rau, dưa, cà mắm lại càng tiêu hóa dễ. Chẳng phải gia đình tôi mà nhà nào cũng vậy, bới móc trong kẹt trong tủ, trong góc buồng, góc chạn có cái gì ăn được là lôi ra. Thành thử có nhiều gia đình, khi mọi người đã chết hết nếu có ai vào mà bới, mà tìm khắp không còn một hột gạo, một mẩu khoai. Những thứ gì nuôi sống được con người đã vào bụng hết để cuối cùng chỉ còn cây cỏ, đất cát, tre gỗ, gạch ngói...xung quanh, những thứ không nhai được. Còn nồi niêu thì vứt lung tung vì không dùng đến đã lâu, coi như những đồ vô dụng. Ngay mâm đồng, nồi đồng, xanh đồng trước kia quí giá là thế bâygiờ vứt đó chẳng ai ngó ngàng bởi nó không đổi ra cơm gạo được. Những nhà giầu có dư thóc lúa không muốn mua vì họ cũng sợ còn đói lâu, thóc gạo của họ đem đổi lấy đồ đồng, đất cát, nhà cửa v.v... rốt cuộc ngồi mà nhìn đống vật không nhai được đó, chết đói. Ðó là trường hợp vài gia đình ở hai làng Xuân bảng và Kiên Lao. Tôi sẽ kể truyện này ở một chương dưới.

Ở trên đã nói nồi niêu trở thành vô dụng. Quả là chúng vô dụng thật vì gạo thóc, cá mú, rau dưa không có thì nồi xoong dùng vào việc gì? Cũng ví như có thuyền mà không có sông hồ, có kim mà không có chỉ, có cần câu mà không có cá bơi lội dưới sông, hồ.

Mẹ tôi lục trong góc buồng ra được mấy bơ đậu xanh (bơ bằng cái cóng sữa bò). Gạo nếp cũng còn mấy bơ. Ðường hết nhưng còn vài bát mật (mía). Tôi còn nhớ bữa đó mẹ tôi bảo tôi ra bể nước mưa múc nước vào cho bà ngào bột, nấu đậu xanh. Bà bảo hai chị tôi nấu cơm nếp thay vì thổi xôi vì muốn thổi xôi, phải ngâm gạo và đậu một đêm. Không ai dám bày vẽ ra lúc này. No ấm, vui vẻ, sung sướng gì mà bày vẽ. Cốt sao ăn cho chắc cái bụng, sống qua ngày là được.

Lúc làm xong, trước khi gia đình ăn, mẹ bảo tôi:

“Mấy đứa con anh chị Thường tuần trước mẹ gặp, chúng gầy quá. Bỏ lúa trồng đay cái kiểu này chết đói cả làng, cả huyện, cả tỉnh đến nơi. Gia đình mình không có thầy tiếp tế về thì cũng đói nhăn ra rồi. Con mang thố cơm nếp và ít bánh trôi lại cho các cháu nhé!”

Rồi bà chép miệng:” Tội nghiệp ông bà Thung và vợ chồng Thường rõ hiền lành tử tế, chịu lam chịu làm. Mấy đứa con ngoan ngoãn, dễ bảo, nhất là cái con Yêu, con gái lớn, một tay nó hết. Nó đã xinh gái mà lại tốt nết, chỉ tội làm cho bố mẹ cực quá, gầy người đi. Thằng con trai nào sau lấy được nó cũng được nhờ. Nọ nay mẹ thấy mặt nó xõm đi vì thiếu ăn. Ông Trời làm cơ cực đến thế này!”

Chị Hai tiếp lời mẹ:

“Mẹ nghĩ nhà ta còn gì giúp anh chị ấy không?”

Mẹ tôi bùi ngùi:

“Cách dây hai tháng, chị ấy đến vay thóc. Mẹ dẫn chị ấy vào trong buồng cho chị ấy coi. Nào có còn bao nhiêu. Sau đó mẹ cho chị ấy chứ không phải cho vay hẳn một gánh. Anh ấy đem quang thúng đến gánh về. Chị ấy khóc, nói mợ đâu có còn bao nhiêu mà mợ cho con? Mợ cho con rồi lấy gì cho các em ăn cho đến lúc có lúa mới? Mẹ không dám nói đã có cậu gửi từ từ về sợ chị ấy trống miệng nói lung tung ra. Mẹ chỉ bảo:” Dù sao mợ xoay xở cũng dễ hơn con, cứ đem về xay cho các cháu  ăn!” Chị ấy vẫn khóc,  nói:

“Mợ ơi, gánh thóc này gia đình con có ăn cháo qua ngày thì cũng chỉ được tháng rưỡi, hai tháng. Sau đó lấy gì cầm hơi hả mợ? Nhà con còn chút tiền bán đay nhưng không có ai bán gạo, thóc cho mà mua. Làm thế nào hả mợ?”

Mẹ phải an ủi chị ấy:

“Trời đày đọa cả bàn dân thiên hạ chứ có phải riêng một gia đình nào. Ðành cứ phải đến đâu hay đó, con ạ! Thôi về bảo anh ấy đến mợ xúc thóc cho.”

“Ðể lặn mặt trời anh Thường mới đến mợ kẻo gánh thóc ban ngày nhiều người nhòm ngó, họ lại nghĩ mình có nhiều, họ đến vay vỏ. Khó lắm mợ ạ.”

Mẹ tôi nghĩ ra:

“Phải đó. Thôi để mợ bảo Hai xúc sẵn vào thúng để đó. Anh ấy đến là cứ việc gánh về nhà.”

(còn một kì)

 

"..Go into whole world and proclaim the gospel to every creature(MK 16:15)"
For question or comments please write to Dan Than magazine

"copyright © 2006"

Dan Than Magazine, P.O Box 5474 Katy, Texas 77491-5474
For questions about this site contact our Webmaster