TRUYỆN KÍ

 

THÁNG BA NĂM ĐÓI

(Tiếp theo)

 

Ðúng 60 năm trước đây, 3-1945 – 3-2005, nạn đói kinh hoàng năm Ất Dậu làm gần 2 triệu đồng bào miền Bắc và Bắc Trung việt tức tưởi ngã xuống như ngả rạ. Nhiều sử sách qui trách nhiệm làm chết gần 2 triệu người dân Bắc Việt cho Pháp thực dân và Nhật quân phiệt đã thu mua, tích trữ, thậm chí dùng thóc lúa đốt thành than chạy đầu máy xe hỏa, cũng như bắt dân ta bỏ lúa trồng đay.

 Những điều đó đều đúng nhưng tác giả chuyện kí này thêm rằng, trách nhiệm còn thuộc về vua Bảo Ðại, lúc đó đang là hoàng đế Việt Nam, cai trị và đại diện người Việt Nam trước Pháp thực dân và quân phiệt Nhật.

 Hoàng đế Bảo Ðại không hề lên tiếng để ngăn chận âm mưu độc ác này của Pháp và Nhật cũng như tìm cách cứu đói khi hàng trăm cái kho chứa đầy gạo ở Hải phòng, Hà nội bị khóa kín, gạo thối rữa thành những đống phân...mà chính tác giả nhìn tận mắt. Cả sau trận đói, hoàng đế Bảo đại cũng không hề có một lời thương cảm thần dân bị chết oan của ông!

Tưởng cũng nên thêm chút tư liệu về đói để bạn đọc tường lãm. NguyệtSan Readers’ Digest trong năm 2003 có đăng:”Trên thế giới đã có 57 triệu người chết đói, trong có 10.5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi. Chỉ trong năm 2003, Nigeria (Châu Phi) mất mùa, nạn đói giết 150,000 trẻ em (không thấy nói người lớn). Cứ 1 phút, trên thế giới có 23 đứa trẻ chết vì đói và mỗi ngày, hàng trăm triệu trẻ em đi ngủ với bụng đói.

Nạn đói ở Bắc Việt năm 1945 là do hậu quả chính sách dã man của thực dân Pháp, lệnh bỏ lúa trồng đay của quân phiệt Nhật và chính phủ bù nhìn, vô trách nhiệm của vua Bảo Đại.  Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC

 

 Kì 4                          

 

 

6

 

Người chết đói rải rác đã nhiều tháng. Một số nông dân sống sót sau này còn nói lại, khoảng giữa năm Quí Mùi (1943) đã có những làng bắt đầu chết đói tuy chỉ là thiểu số. Bà chị họ tôi, chị Uông, kể cho tôi nghe:

“Cậu ơi, thảm lắm cậu ạ. Không cứ là đến năm 45 mà ngay từ 43 đã có người chết đói. Gia đình bà cô tôi - vẫn lời chị - ở một vùng thật xa chợ búa, làng xóm trong tỉnh Thái bình.

Gia đình cả thảy gồm tám người, trước giờ vẫn có được dăm sào ruộng tư và cấy rẽ vài mẫu ruộng của chủ điền lấy thóc ăn. Vuờn tược, gò đống cũng sản xuất thêm ngô, khoai, rau cỏ. Những năm được mùa thì cũng đủ ăn một cách tần tiện vì gia đình rất nghèo, không còn mối lợi nào khác. Cả gia đình chỉ có một chiếc tam bản mỗi tháng bơi ra phiên chợ Ninh mua vài thứ cần dùng rồi lại bơi về.

Khoảng mùa thu năm 43, đến gần hai tháng không thấy người trong gia đình này ra chợ, một người thân bơi thuyền vào coi thì nhà cửa - chỉ là nhà tranh vách đất - vẫn y nguyên nhưng cả tám người đã chết thối trong nhà. Khi đi kiểm soát thì thấy gạo thóc, khoai ngô hết nhẵn, người ta nghĩ là cả gia đình đã chết đói.”

Chị Uông chấm dứt câu chuyện bằng những tiếng thở dài não nuột. Thực ra, không phải chỉ một gia đình người cô chị Uông mà hàng ngàn gia đình khác lâm vào cảnh huống thảm thương đó do những kẻ cầm quyền vô nhân đạo gây ra.

Qua năm 1944, rất nhiều gia đình cả nhà chết đói không còn làm ai ngạc nhiên. Những con người da bọc xương, những ngôi nhà bỏ hoang xuất hiện ngày càng nhiều. Phương tiện giao thông chỉ là đi bộ nên đi đâu cũng coi là xa, nông dân chết đói ở thôn quê không dám “mạo hiểm” lên thành phố sợ chết giữa đường thì còn cơ cực hơn nữa. 

Vì hạn hán, vì sâu rầy cắn phá, chuột bọ tung hoành, vụ chiêm và vụ mùa năm 1944 đều mất gần như trắng tay. Nông dân Bắc Việt lâm vào tình thế cực kì nguy cấp.

Giả sử hai vụ này được mùa cũng vẫn đói vì diện tích cấy lúa đã bị thu hẹp hết 75%, nhường chỗ cho đay, gai. Nông dân chỉ còn trông vào việc bán đay, bán gai để mua gạo sống qua ngày.

Nhưng đay bị dìm giá vì Pháp và Nhật biết, nếu họ không mua, nông dân Việt chỉ có cách vứt đi.

Từ thượng cổ, đay gai ở nước ta vẫn được dùng để đan võng, dệt chiếu, bện chão bện thừng cho thuyền bè, làm rọ đựng các đồ dể treo, đan thành dép đi trong nhà, lưới cá, vó bè vv... nhưng chỉ với số lượng nhỏ. Nay đay tràn ngập vì bị bắt buộc sản xuất, nhà nào cũng chỉ vỏ đay là vỏ đay, vỏ gai là vỏ gai, chất cả gian nhà, nếu Nhật, Pháp không mua thì chắc chắn chỉ có đổ đi. Chi bằng bán rẻ, bán tháo cho chúng lấy tiền đong gạo, đó chính là ước muốn của nông dân Bắc Việt lúc đó, ngàn người  như một. Nhưng vấn đề là, dù có tiền, có vàng, không có thóc gạo, ngay cả ngô khoai. Có sản xuất đâu mà bảo là có. Cả một vùng đồng bằng sông Nhị hà khi xưa cấy lúa đủ ăn, mùa màng tốt đẹp thì dư dả, đem đổi thóc lấy muối, lấy vải, lấy nông cụ, lấy thuốc thang và những thứ cần dùng cho đời sống. Nay nhìn khắp nơi không thấy một hạt thóc, một hạt gạo, một củ khoai, cái bắp. Làm thế nào để sống khi gạo, khoai, ngô là thực phẩm chính duy nhất của dân ta từ thời thượng cổ đã cạn kiệt đến bữa cuối cùng? Hiểu được điều đó sẽ thấy cái mối lo vắt ruột, vắt gan, phát sốt, phát rét, đâm khùng, đâm điên nhất là nhà đông người!

Cũng có một số người học thức hiểu biết tình hình, trong đó có vài tờ báo Việt ngữ ở Hà nội, Sàigòn nêu lên viễn ảnh đen tối, người dân Bắc Việt sẽ chết hết nếu Chính phủ Nam triều không can thiệp với người Nhật và người Pháp đem lúa gạo từ miền Nam, vốn khi nào cũng dư dả, ra tiếp tế cho dân miền Bắc. Nhưng có lẽ chính phủ Nam triều đã quá chậm chạp hoặc thờ ơ, hoặc Pháp và Nhật lấy cớ phi cơ Mỹ oanh kích hàng ngày, các chuyến xe lửa từ Nam ra Bắc sẽ là mục tiêu tốt cho phi cơ Mỹ (đánh phá đường tiếp tế của quân đội Nhật) nên họ từ chối. Ðây chỉ là những giả thiết vì người viết bài này không nắm được hay đọc được một văn bản nào hoặc một bài báo nào nói đến sự can thiệp của triều đình vua Bảo đại cho thần dân Bắc kỳ của ông.

Ngay cả sau khi gần 2 triệu dân Bắc Việt đã nằm xuống và những thời gian sau này, vua Bảo Ðại không hề có một lời ân hận, chia buồn (dù chỉ đãi bôi) với những gia đình có người chết đói mà chính ông và chính phủ Nam triều của ông lúc đó trách nhiệm.

Cùng là con dân nước Việt, tình nghĩa anh em, miền Bắc chết đói kinh hoàng như thế nhưng hầu như đồng bào miền Nam chẳng biết gì chỉ vì thông tin còn quá lạc hậu, giao thông khó khăn diệu vợi chứ cả như bây giờ, làm sao lại không có được những tấm lòng vàng nhường cơm sẻ áo nhất là lúc đó đồng bào miền Nam khá sung túc, thóc gạo dư thừa, Pháp và Nhật phải đốt thóc làm than chạy đầu máy xe hoả thay cho than đá không đưa từ Hòngay vào Nam được vì phi cơ Mỹ oanh tạc đường tiếp tế của Nhật để buộc Nhật đầu hàng. Một lí do nữa gây nạn chết đói mà Sử gia Trần gia Phụng và nhiều tác giả khác nại ra là Việt Minh đã chận đường tiếp tế lúa gạo cho nông dân Bắc Việt. Họ tịch thu rất nhiều lúa gạo, tồn trữ lại để nuôi bộ đội của họ, đang cần rất nhiều, một mặt gây lòng căm thù của nhân dân ta đối với Pháp Nhật tàn ác, mặt khác, theo đúng sách vở của Tôn Vũ, bên nào dự trữ được đầy đủ binh lương (làm cho binh hùng tướng mạnh), bên ấy nắm phần thắng. Điều đó cũng dễ hiểu.

           

7

 

Mùa Ðông năm Giáp Thân (1944), tai họa ghê gớm lên đến cao điểm.

Mặc nhiên nó kéo sang mùa Xuân Ất Dậu (1945), càng ngày càng tệ, cho đến quá giữa năm 1945 khi có được những hạt thóc đầu tiên. 

Một buổi sáng, từ trong nhà bước ra đường, tôi tính tới nhà chị gái và anh rể tôi ở làng bên để thăm chị vì nghe tin chị bị bệnh.

Ðường xá vắng hoe. Người ta đi đâu hết thế này? Tôi thấy một người đàn ông khật khưỡng đi xiêu vẹo trong một cái ngõ, cách tôi chừng vài chục bước. Tôi không nhận ra người quen hay lạ vì trước mắt tôi là một bộ xương cách trí biết đi. Vâng, đúng là một bộ xương cách trí!

Da sạm đen toàn thể, hai hố mắt sâu hoắm, đen sì như hai lỗ đáo, đầu trơ sọ, tóc tai làm như đã rụng hết, hai má tóp vào đến tận xương, nhăn nheo, dúm dó như cái mặt của con khỉ, manh áo rách để lộ rõ từng cái xương sườn, bụng bé tí chỉ một chẹn tay và đôi tay, đôi chân chỉ vừa bằng  bốn cái xương đay, nhỏ đến nỗi tôi không thể ngờ được đó là chân, tay của một con người. Tôi cố nghĩ nhưng không nhận ra ai dù tôi biết từng người trong xóm. Thực sự lúc đó tôi cũng sợ. Bộ xương như con ma kia túm lấy tôi thì sao? Tôi vội đi khuất vào một bụi tre rồi cắm đầu đi thẳng.

Từ nhà tôi đến nhà chị gái khoảng hai cây số, tôi gặp bốn đám đem người chết ra đồng chôn.

Một cái chiếu cuộn lại, giây cột hai đầu cho khỏi tuột, người chết được nằm trên một cái võng, cây tre xỏ vào, hai người khiêng đi. Người đi sau cầm theo cái mai hay cái cuốc để bới đất. Không kèn không trống. Không xóm giềng họ hàng. Không nén hương, bát cơm, quả trứng là những thứ xưa kia không thể thiếu. Chẳng những thế, người đi chôn chẳng còn hình tượng người; họ làm việc ấy vì thương người thân và vì sợ để thối rữa trong nhà, họ hết nơi trú ngụ. Còn chút sức lực, họ phải đem xác chết ra đồng kẻo nữa ngày mai, biết đâu họ không thể làm.

Người chết vì teo tóp hết thịt nên chỉ còn bộ xương khô bọc da, rất nhẹ, như người đàn ông tôi nói ở trên, gió thổi đổ và sẽ đột quị bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, chết ngay tại chỗ. Nếu không còn người thân ra kịp đem về nhà, chỉ một loáng là chó, mèo hoang hoặc chuột bọ, kiến bã đến banh xác kiếm những thứ chúng cần cho sự sống của chúng.

Ra đến chỗ không nhà, không cửa, thường chẳng xa là bao vì còn ai kiểm soát, hỏi han, người  cầm cuốc bới cái lỗ sâu khoảng cánh tay, bỏ bó chiếu xuống, vùi lại rồi về. Có những người đã kiệt lực vì đói, dù thương người thân nhưng không còn sức để đào lỗ cho sâu nên chỉ vùi khơi khơi, khi họ vừa ra về là chó mèo, chuột bọ đến bươi ra.

Ra đường rất ngại vì nguy hiểm nhưng giá có đi khắp làng, khắp tổng, đường xá cũng vắng hoe như tha ma mộ địa, chỉ loáng thoáng thấy đôi, ba người đói khát, rách rưới, khật khưỡng đi chẳng biết đi đâu và sẽ té xuống một lúc nào đó. Súc vật như trâu bò, lợn gà, chó mèo hoàn toàn vắng bóng.

 Tôi nhớ hồi thanh bình, no ấm cứ mỗi sáng sớm, gà trống gáy te te, gà mái đẻ trứng cục te cục tác trong chuồng, lợn ủn a ủn ỉn đòi ăn rồi là tiếng bịch bịch chân trâu chân bò dẵm trên con đường đổ xi-măng băng qua trước nhà, tiếng hót líu lo những con chim chích choè, những con sáo, tiếng kêu thanh tao của những con vành khuyên và tiếng chiếp chiếp những con gà con theo mẹ. Nghe mà vui. Nghe mà thấy lòng mình cũng rộn ràng cùng với thiên nhiên, đất trời, chim muông, thú vật. Người ơi ới gọi nhau đi chợ, ra đồng, tiếng chó sủa khi thấy người lạ đi trước ngõ; tiếng chuông rổn rảng giục giã của ngôi thánh đường xứ đạo và êm đềm, thanh tịnh của ngôi chùa Trung gần nhà tôi. Tất cả đã cho tôi những ấn tượng êm đềm, ấm cúng và thanh bình, no ấm của một miền quê tôi được sinh ra và lớn lên trong cái nôi hạnh phúc của tuổi niên thiếu không bao giờ có thể quên được.

  Nhưng nay miền quê ấy đã khác xa khi xưa, khác rất xa dù trong thời khoảng chỉ hai năm. Có thể ví hai cảnh đời ấy với hai cảnh thiên đàng và địa ngục hai bên. Thiên đàng cho thiên thần và địa ngục cho ác quỉ, nhưng địa ngục ở đây không phải cho ác quỉ mà cho những dân quê Bắc Việt hiền lành, chất phác suốt đời cặm cụi làm việc, đổ mồ hôi trên những thửa ruộng khô cằn mong đổi lấy một đời sống khiêm nhường, thanh đạm, nhưng vẫn không xong! Và cuối cùng là nằm chết đói, chết lả trên những mảnh đất thân thương ấy! Vợ chồng, con cái. Cha mẹ, anh em. Gia tộc, xóm làng. Tất cả. Tất tất cả. Có còn gì thảm thương hơn!

Sau này, người sống sót còn kể có những thôn xóm giết thịt trẻ con thui ăn. Tôi không biết là giết thịt trẻ lúc chúng còn sống hay đã chết nhưng những người ăn thịt trẻ tin rằng thịt trẻ mềm và ngon hơn thịt người lớn. Thịt những kẻ đói lâu ngày đã teo tóp lại chỉ còn da bọc xương, dù trẻ dù già, chắc chắn chẳng còn gì để ăn.

Chợ không còn họp nữa vì có người đâu mà họp vả lại họp thì ai bán, ai mua đây? Còn cái gì để bán? Có ai có tiền mà mua? Có một thứ cần mua nhất là gạo, thóc thì chẳng ai bán. Có đem bán nhà, bán đồ đạc không ai mua vì mua để làm gì trong khi cái mạng sống không biết có giữ cho được đến lúc có tiếp tế, có gạo thóc?

Người dân nói bâng quơ với nhau mong tiếp tế  từ Chính phủ tải lúa gạo trong Nam ra nhưng không một ai đặt niềm tin vào Chính phủ Nam triều dưới quyền lãnh đạo của vua Bảo Ðại mà người dân nghĩ ông đang còn mải săn bắn và liên hoan với những cô đầm Pháp xinh đẹp. Tôi quí nhà Nguyễn khai phá mở mang bờ cõi ở trong Nam nhưng mỗi lần nhớ đến chuyện này, tôi không khỏi căm giận vua Bảo Đại!

Cũng chính bởi thế mà người dân Bắc Việt thù ghét triều đình Bảo Ðại. Khi ông Hồ chí Minh, tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội, ngày 19-8-1945 và những ngày kế tiếp, hô hào dân Việt đấu tranh giành quyền Ðộc lập cho nước nhà, đánh đuổi Pháp thực dân đô hộ và truất phế Bảo Đại quân chủ bù nhìn tay sai thực dân Pháp, người dân Bắc Việt đã không thắc mắc hưởng ứng đi theo ông Hồ và đảng Việt Minh của ông làm thành một cao trào vì Dân tộc, vì Ðất nước phá tan gông xiềng nô lệ mà vua Bảo Ðại là một hình tượng đại biểu xấu xa. Ông Hồ cũng long trọng đọc Bản Tuyên Ngôn Độc Lập trong đó mỗi con người có Tự Do và được mưu cầu hạnh phúc; quyền này do Thượng Đế ban cho mỗi người từ khi sinh ra mà không một ai có quyền lấy đi. Khẩu hiệu mà cả nước phải viết trên đầu mỗi đơn, thư, văn bản là: Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa, Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc. Những danh từ tôn quí này ông Hồ và đảng Việt Minh của ông đưa ra có ma lực làm nức lòng toàn dân, làm ai nấy thảy đều vui mừng, tin tưởng, hăng say và nóng lòng hi sinh cho Đại Nghĩa Dân Tộc dù có da ngựa bọc thây, dù có nhảy vào biển lửa. Cái chết với thanh, thiếu niên Việt Nam lúc đó chính là chết cho Tổ quốc, cho Dân tộc được trường tồn, chết để rửa cái nhục vong quốc đã 80 năm nô lệ giặc Pháp, 1000 năm nô lệ giặc Tàu. Chết là một vinh dự cho mỗi người vì người người khát khao Độc Lập, Tự Do và Hạnh Phúc như nắng hạn mong mưa rào. Chẳng phải ông Hồ mà bất cứ lãnh tụ nào lúc đó có chút uy tín hứa mang lại độc lập, tự do, cơm no áo ấm cho toàn dân Việt thì cũng được ủng hộ hết mình như thế. Nông, Công nhân là những thành phần nghèo, vô sản theo ông Hồ đã đành mà ngay trí thức, giầu có, quyền thế cũng theo ông, cũng hết lòng vì đại nghĩa dân tộc dù có phải hi sinh hết tất cả tài sản sẵn có của mình. Bà Nguyễn thị Năm, triệu triệu phú, là một bằng chứng. Và sau này, nhiều nhà giầu miền Nam trong khoảng 1954-1975, trong cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai miền Nam Bắc, cũng lại là một bằng chứng lòng yêu nước nồng nàn của những người này qua lời tuyên truyền khéo léo của Việt Minh CS và Mặt Trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.. Ở đây, ta khoan xét những hệ quả (mà sẽ được trình bày ở một bài khác).

 Lòng căm thù chế độ Pháp thực dân và quân phiệt Nhật dày xéo nước Việt, gây nạn đói kinh hoàng cho toàn miền Bắc đã là động cơ khiến Việt Minh không cần phải tuyên truyền nhiều (dù họ có tuyên truyền ra rả và coi tuyên truyền là cái xương sống của chế độ) và vì thế trong công cuộc chiến đấu chống Pháp 1946-1954 hàng vạn thanh niên đã lao vào cái chết, ôm bom nhảy vào xe tăng Pháp, dùng người chận đại pháo tuột dốc, xung phong biển người... ở Điện Biên Phủ và khắp nơi với mong ước dân tộc được sống, được phục sinh, được no ấm. được hãnh diện là người Việt Nam chứ không phải họ chiến đấu cho ông Hồ cũng như đảng Việt Minh. Họ cũng không liều chết để được danh, được lợi. Động cơ chính là lòng yêu nước, là sức mạnh vũ bão, mạnh hơn hết thảy, thiêu hủy hết thảy chướng ngại trên đường tiến của nó mà không một lời hứa hẹn hay tuyên truyền nào có thể sánh. Quả rằng có được cái “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” đó, bất biết có được bằng cách nào, ông Hồ chí Minh và đảng Việt Minh đã có cái cơ hội ngàn vàng để làm cho dân tộc được no ấm, vẻ vang, văn minh, tiến bộ không thể thua bất cứ nước Á-Phi nào trên bản đồ thế giới mới là đúng!

Sau ngày 19-8-1945, tôi đã đi coi nhiều phòng triển lãm tại Hà Nội và cảng Hải Phòng của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa do ông Hồ chí minh làm Chủ tịch, ông Nguyễn hải Thần Phó chủ tịch và các Bộ trưởng người của Việt Minh, Việt Nam Quốc Dân Đảng và các đảng phái khác. Các phòng triển lãm này chủ yếu trưng ra tội ác do thực dân Pháp và quân phiệt Nhật gây ra cho đồng bào ta. Nạn đói Ất Dậu là số 1 với 2 triệu người chết đói, những bộ xương người, đầu lâu trơ sọ, cảnh chụp các thây người chết đói phu hốt rác thảy lên các xe rác thành phố đem đi chôn tập thể. Kế đến là sưu cao thuế nặng, thuế thân, thuế ruộng, làm xâu, bắt lính. Rồi chính sách ngu dân làm dân tộc ta lạc hậu, thụt lùi, con cái nông dân không được đi học, đành chịu dốt nát kéo dài kiếp nô lệ hết thế hệ này sang thế hệ khác. Căm giận thay! Rồi nạn cường hào ác bá đục khoét dân lành, xách nhiễu người dân đến từng lon gạo, mớ khoai, điếu thuốc mỗi khi phải đi xin chúng chứng nhận giấy tờ, sổ gia đình v.v.... Ác nhất là bọn Mật thám, Sen đầm Pháp rình rập, theo dõi ngày đêm, bắt bớ những nhà hoạt động cách mạng như đảng trưởng Nguyễn Thái học và 12 liệt sĩ Yên Bái, như ông Phan bội Châu, Phan chu Trinh, ông Hồ chí Minh, ông Nguyễn hải Thần v.v...rồi chúng tra tấn dã man, treo ngược lên xà nhà, thủ tiêu, tù đầy Sơn La, Lai châu, Lao Bảo, Hỏa lò Hà Nội... Guồng máy cai trị của Pháp thì tham nhũng thối nát, xách nhiễu dân lành, bất công xã hội đầy dẫy khắp mọi nơi khiến dân chúng nghèo nàn cơ cực mà chỉ làm giấu cho một bọn tham quan ô lại làm cho Pháp và đi sát hoặc buôn bán với Pháp.

Những phòng triển lãm này có mặt ở khắp các thành phố lớn như Hà Nội, Hà Đông, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên v.v...  Đã sẵn căm thù Pháp thực dân bóc lột tận xương tuỷ, nay lại được nhìn chính những hình ảnh dã man của chúng Vì thế lòng dân oán giận, thề phải phanh thây uống máu giặc Pháp mới hả... và vì thế Tổng Khởi Nghĩa bùng lên, Cách Mạng ra đời dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ chí Minh và đảng Việt Minh để mang lại cho toàn dân Việt một cuộc sống no ấm, yên vui, công bằng xã hội, xoá đi cảnh giầu nghèo quá cách biệt người ăn không hết người lần không ra, xoá đi cảnh người trù dập, hà hiếp, bắt nạt người, xoá đi những tàn tích xấu xa của thực dân phong kiến để nâng cao dân trí, thực thi Dân chủ, sống đời Tự do vì Hồ Chủ Tịch tuyên bố: “Không gì quí bằng Độc lập và Tự Do” Nhiều biểu ngữ bằng vải, bằng cót viết bằng sơn, viết lời đó của Hồ chủ tịch và một vĩ nhân Hoa Kỳ”Give me Liberty or give me death!” nghĩa là “Hãy cho tôi tự do hay là giết tôi đi!” cùng rất nhiều khẩu hiệu ý nghĩa khác như “Independence or Death” Độc Lập hay là Chết, “Vietnam to the Vietnamese” Nước Việt Nam của người Việt Nam, “Independence, Freedom and Happiness” Độc Lập, Tư Do và Hạnh Phúc....

Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố nhỏ, tất cả đều sôi lên, đều điên cuồng mừng vui vì quá sung sướng, quá hạnh phúc như chưa từng bao giờ trong đời có những giây phút đáng sống đến thế!...

Đồng bào coi, nghe, tham dự cứ mê đi. Cờ đỏ sao vàng (cờ của đảng Việt Minh nay đảng này lấy làm quốc kì!) tràn ngập khắp mọi phố xá, hang cùng ngõ hẻm, y như Trần Dần sau này viết: Tôi không thấy phố không thấy nhà, Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ. Những đoàn người diễu hành dài dằng dặc, cờ xí, biểu ngữ nhìn rối mắt, bao giờ đi đầu cũng là dàn trống ếch của thiếu nhi đánh rất khoẻ, rất bài bản (mà hầu như ai cũng thuộc) để đoàn biểu tình rập bước quân hành. Đôi khi có mấy anh bộ đội mũ sắt nguỵ trang lá cây vác súng đi sau dàn trống làm ai cũng nức lòng (bộ đội VM lúc đó còn rất ít, vũ khí thô sơ). “Bao chiến sĩ anh hùng, Lạnh lùng vung gươm ra sa trường. Quân xung phong, nước Nam đang chờ mong tay ngươi hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời...” Bài hát này và nhiều bài hát khác như “Người người đều mong du kích quân, du kích quân...” “Một mùa Thu năm xưa cách mạng tiến ra nước Việt...” được mọi người nhất là thanh thiếu niên say mê hát không biết mỏi miệng, hát bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào. Hễ một người bắt đầu câu đầu lấy giọng là các người khác đồng ca ngay. Không khí sôi động như ngày hội dân tộc, như ngày phục sinh của đất nước toàn dân đã mong mỏi hàng ngàn năm.

Là một thiếu niên, tôi cũng mê đi, đêm ngủ vẫn nghe giọng đồng ca, trong mơ vẫn nhìn thấy cờ, biểu ngữ và cả tương lai sáng lạn của dân tộc. Lập tức tôi xin thầy mẹ tôi cho tôi thoát li gia đình để đi cứu nước, mặc dù thầy tôi trước sau không bằng lòng. Cụ có lí do vững chắc đầy thuyết phục của cụ mà mấy năm sau, tôi mới thấy. Một người đã sang Tàu, sang Nhật hồi phong trào Đông kinh Nghĩa thục, đã bị Mật Thám Pháp bắt mấy lần bỏ tù, sau 45 cũng bị Việt Minh bắt giam mấy tháng, chắc chắn phải kinh nghiệm hơn thằng bé mới lớn như tôi.

...Nhưng lúc đó, tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài sự say mê của tuổi trẻ và tương lai dân tộc mà tôi muốn góp phần. Vả lại, có biết bao nhà trí thức đi theo và ủng hộ ông Hồ và đảng Việt Minh. Họ là những người lớn, tôi chỉ là đứa con nít, họ bằng cấp đầy mình, tôi chỉ là một học sinh tiểu học, họ có địa vị và giấu có, tôi chẳng có cái gì. Thế thì tại sao tôi phải e dè. Tôi chỉ còn e dè có bố tôi vì bố tôi không cho phép nhưng sau đó tôi trốn nhà lần mò đến xin đầu quân vào bộ đội chủ lực thì viên Trung đội trưởng nhìn tôi, hỏi tuổi rồi nói, “em chỉ có thể xung phong vào đoàn Văn Công đi biểu diễn văn nghệ mà thôi.” Thế là tôi, với cây đàn banjo, cái harmonica và cái ba-lô đựng hai bộ quần áo, đã theo đoàn Văn Nghệ (tôi đã quên mất tên, hình như là Lãng Bạc, rồi Sông Lô?) đi giang hồ từ đó. Tôi cũng đã được huấn luyện quân sự cấp tốc 3 tháng tại địa phương mặc dù tuổi còn nhỏ. Huấn luyện viên là những anh bộ đội tập cho tôi ngắm bắn (chứ chưa bắn thiệt vì đạn còn rất hiếm), ném lựu đạn (tập mở chốt cho nhanh và ném lựu đạn không ngòi nổ), bò dưới hỏa lực, đánh xáp lá cà, lội ruộng băng đồng, tấn công đồn bót giả. Học lí thuyết và tư tưởng Mác-Lênin và các giáo điều khác. Nhưng quan trọng là học lí luận và căm thù giai cấp, căm thù đế quốc Mỹ và thực dân Pháp. Mỗi tối chúng tôi học tập thảo luận và tự phê tự kiểm đến nửa đêm mới đi ngủ. Năm giờ sáng, nghe tiếng kẻng, phải thức dậy sinh hoạt theo thời biểu đã được ấn định. Lương thực phải tự túc, cứ 10 người một tổ hùn nhau thổi cơm rồi ăn chung. Kỉ luật khóa vô cùng cứng rắn nên ai nấy phải hết sức giữ mình.

Cũng có thi mãn khóa. Tôi là một trong 5 học viên đậu đầu khoá trên 700 người của Phủ Xuân Trường, Nam Định. Tôi được tuyên dương thành tích và được thưởng hai cuốn sách viết về chủ nghĩa Mác-Lê, 1 cái mũ cói, 1 áo trấn thủ mới, 2 cuốn vở để ghi chép và vài thứ khác tôi không còn nhớ. Giữa năm 1950, mẹ tôi cho người đi tìm tôi, nói thác rằng bà ốm nặng, bảo tôi phải về. Lúc đó tôi đang theo đoàn trình diễn Văn Nghệ ở Đống Năm, Thái Bình.

Sau đó tôi lên Hà Nội học tiếp. Tháng 9 năm 1954, sau Hiệp Định Genève 20-7-1954, tôi theo đoàn người di cư vào Nam. Tại Sàigòn, tôi có công ăn việc làm, chỉ đi học ban tối từ cuối năm 1956 và trở thành Giáo sư dạy Toán Lý Hoá  Trung học đệ nhất cấp (với bằng Tú Tài II Toán) từ mùa hè 1959. Tôi cũng bắt đầu viết (amateur) cho các nhật báo, nguyệt san từ năm 1958 với bút hiệu Xuân Vũ (Nhà văn Xuân Vũ tên thiệt là Nguyễn minh Triết, sinh ở miền Nam, tác giả “Đường đi không đến” đã dùng bút hiệu này sau tôi 10 năm khi ông từ Bắc vào Nam năm 1968 (hay 69). Ông trình diện Bộ Chiêu Hồi và được trọng dụng. Trước khi mất, ông viết cho Nguyệt San Đoàn Kết ở Austin, TX mấy năm, tờ Nguyệt San tôi cũng cộng tác từ năm 1992). Từ 1959, tôi cũng là Chủ Bút Bán Nguyệt San Tinh Thần của Nha Tuyên Uý Công giáo (có lương), đồng thời là Giám Học Trung tiểu học Đồng Tiến. Năm 1965, lúc đang ở trong Quân đội Cộng hoà, tôi đậu Cử Nhân Văn Chương Đại học Văn Khoa Sàigòn và từ đó chỉ chuyên dạy Triết học (Tú Tài II), Việt ngữ (Tú tài I) và Anh ngữ khi tôi được giải ngũ hai năm sau đó cho nhiều tư thục ở Sàigòn.

 Các sách Giáo Khoa Triết học và Luận đề Việt văn tôi soạn cho các lớp đi thi bằng Tú Tài 1 và II, một cuốn Tuyển tập truyện ngắn (Hoàng hôn miền núi) và một cuốn Thơ (Như áng Mây trôi I) ra đời trong thời kì này. Tất cả những sách này và những bài báo đã viết trong 17 năm và một “thư viện” nhỏ hàng trăm cuốn sách tôi đã mua và sưu tập tại gia trở thành đống giấy vụn cân kí cho ve chai sau ngày 30-4-75. Năm 1971, tôi đắc cử Dân Biểu Hạ Nghị Viện VNCH, làm việc cho đến 4-1975 rồi sang Hoa Kỳ. Tại Hoa Kỳ tôi cũng tốt nghiệp Đại Học Cộng đồng Orange Coast College, rồi Sinh viên năm cuối Kỹ sư Điện tử Đại học Long Beach nhưng sau đó vì phải đi làm kiếm tiền yểm trợ gia đình đang từ đảo Galăng sang, tôi thôi học để đi làm việc cho Sở Xã Hội quận Orange, CA với chức vụ Chuyên viên Tìm Việc làm (Job Developer). Tôi đã làm được 20 năm và nghỉ hưu năm 2000. Ở Hoa Kỳ, tôi đã liên tục viết cho các báo, “net” và xuất bản Thơ và Truyện dài, Truyện ngắn.

Riêng nền học vấn của tôi, Sàigòn chính là nơi “cứu rỗi và phục sinh” cuộc đời tôi từ một đứa bé thất học và gia đình nghèo vì chiến tranh ở Bắc Việt thành một người có theo đòi nghiên bút. Tôi mãi mãi biết ơn Sàigòn.

8

 

Trở lại với nạn đói. Trẻ nít chết hầu hết vì nhịn đói không nổi. Có những gia đình sau vụ đói, chỉ còn lại hai bố mẹ. Có gia đình người anh họ tôi, đàn con cả chục đứa đã lặng lẽ ra đi sau khi không kiếm được cái gì bỏ bụng. Rau ngoài vườn, ngay đến gốc cải bắp, gốc mồng tơi, lá má, giây khoai lang, sắn dây, quả sung quả khế cũng không còn. Tôi thấy nhiều người đi hái lá lưỡi rắn, cỏ gấu - những thứ xưa nay trâu bò cũng không ăn - và cỏ gà, luộc lên ăn đỡ. Củ chuối được chiếu cố tận tình, sau đến thân chuối cũng hết sạch. Và người ta nhai cả lá chuối và tầu chuối. Miễn sao đầy bụng. Có những người nhai cả gốc sắn hoặc củ sắn (khoai mì) bị mủ độc của sắn giết chết sau khi ăn. Có những người xuống sông, xuống ao mò tôm cá chẳng những đã không được con nào mà còn chết lạnh nổi lên ở mặt ao, hồ.

Chuột quá nhanh khó bắt dù người muốn bắt mấy con ăn thịt. Chúng cũng quá đói vì không kiếm đâu ra đồ ăn nên kiếm hang kiếm ổ trú thân. Người chết không kịp chôn hay không có thân nhân, bỏ thí, bị chuột, chó mèo làm thịt, có khi người vẫn còn sống nhưng lực đã tàn. Súc vật và con người, bên nào khoẻ thì thắng. Bên thua bị làm đồ ăn cho bên thắng sống đỡ.

Chó mèo chủ không cho ăn nên bỏ nhà đi hoang kiếm ăn. Chủ tóm được cũng thịt luôn giải quyết cấp thời cái bao tử đã. Nhiều con chó, con mèo mọi khi ngoan ngoãn dễ thương, chủ bảo sao cũng nghe, nay chúng thấy chủ không mừng như mọi khi mà chủ gọi chúng không đến với chủ. Nhìn đôi mắt chủ, chúng có linh cảm chủ muốn bắt giết thịt. Chúng nhìn chủ một hồi rồi cúp đuôi bỏ đi.

Ngưòi đói quá đi lang thang một mình bị cả đàn chó đuổi cắn, chúng đã thành những con sói chỉ biết một qui luật của rừng xanh:”mạnh được yếu thua”. Chúng ăn lẫn nhau không được vì bị đánh trả thì chúng kiếm những con mồi yếu thế chúng có thể thắng được. Chim chóc thưa vắng, không biết chúng bay đi đâu cả. Có lẽ chúng cũng không kiếm được cái gì để ăn. Mọi khi buổi sáng, chích choè, chào mào, sáo hót líu lo; sẻ sà xuống sân từng đàn kiếm những hạt thóc rơi rụng, vành khuyên nhảy nhót trên cành kêu nho nhỏ. Cảnh đồng quê vui vẻ, sầm uất, thanh bình. Giờ này tất cả vắng hoe, vắng ngắt như trong một cái địa ngục trần gian bắt mọi sinh vật câm tiếng, chết dần. Những năm được mùa khi xưa đâu có cảnh này, cảnh lặng lẽ bi thương tang tóc này? 

Các chị lớn tôi đều đã đi lấy chồng. Lúc đó chỉ còn anh trai, một chị kế tôi và tôi ở nhà với mẹ tôi. Tuy nhiên, đến lúc “khẩn trương”, mẹ tôi phải gọi hai anh rể và hai chị gái tôi tới để nhà có đông người mà phòng thủ, sợ những kẻ quá đói làm bậy sẽ đến cướp gạo thóc, chỉ còn đủ cầm hơi cho đến mùa tới.

Chớm đói, học sinh các trường đã lác đác bỏ học. Chính tôi chứng kiến một học sinh trong trường đang giờ ra chơi ngã lăn ra gốc bàng, mê mệt đi vì đói quá. Rồi đến lúc các thầy giáo cũng bỏ trường. Lương không phát về mà gạo không có cho vợ con ăn, lòng dạ nào đến lớp?

Giả sử có lương cũng không đào đâu ra gạo mà mua dù đắt như vàng. Bạn ra đường giơ ra cho một người đang đói, một tay là mấy lạng vàng đỏ choé, tay kia  một nắm cơm chỉ bằng cái trứng gà, người này xin bạn nắm cơm. Vàng, tiền và cả đồ đạc đã trở nên vô dụng.

Khi người Nhật chiếm đóng Ðông Dương, người Pháp oải tay ra ngay, nhất là bên Pháp đang bị Ðức xâm chiếm, Pháp không còn lòng dạ nào săn sóc vấn đề Học chính ở nông thôn. Chẳng phải chỉ Học chính mà nhiều vấn đề khác, Pháp coi như bỏ thí, chỉ còn lo cho mấy thành phố, vừa dễ kiểm soát, vừa có đông kiều dân Pháp lưu ngụ,  họ có nhiệm vụ phải bảo vệ. Chính bởi vậy, nông thôn chết như rạ mà thành phố vẫn tạm thời có gạo “bông” cấp phát mỗi tháng, còn cầm cự được cho đến mùa tới.

Thầy tôi đã tiên liệu đưọc nạn đói sẽ xẩy ra khi người dân Bắc Việt được lệnh bỏ lúa trồng đay, lệnh đã ban ra từ năm 1942 nhưng đến 1943 nông dân ta mới thi hành.

Tuy còn nhỏ nhưng tôi đã nghe và hiểu được những nỗi lo âu của thầy mẹ tôi khi hai ông bà nói chuyện với nhau mỗi buổi tối về nạn đói sắp sửa xẩy ra nhưng không biết rõ là vào lúc nào. Tôi biết thầy mẹ tôi lo lắm, lo đến mất ăn mất ngủ.

Một mặt thầy tôi gửi tiền về cho mẹ tôi đong trữ một ít thóc lúa, mặt khác ông cho đong một ít gạo dự trữ ở trong nhà ở thành phố Hải phòng.

Thầy mẹ tôi trong mấy năm đó không dám chi tiêu chút gì ngoài những thứ thật cần thiết cho đời sống. Thầy tôi thích sửa nhà cửa, xây tường, xây cổng ngõ, đào ao thả cá, chơi hòn non bộ, cây cảnh, trồng hoa, nuôi khướu, nuôi nhồng, nuôi hoàng yến v.v... nhưng từ năm 1942, ý thức trận đói sắp đến sẽ vô cùng bi đát, thầy tôi rút hết lại không chiều theo sở thích nữa.

Tôi nhớ ông thả chim đi, cho cá vàng và hòn non bộ những người bạn muốn nuôi, ông bảo mẹ tôi không để đất không trong mấy sào vườn mà trồng khoai, trồng sắn, trồng rau trong khi mấy mẫu ruộng mẹ tôi cho cấy rẽ cũng đã phải tuân lệnh bảo tá điền trồng đay.

Dù có tạm đủ lúa gạo cho gia đình tôi cho đến vụ mùa sang năm, người trong nhà cũng phải ăn tiết kiệm bữa cháo, bữa cơm, độn khoai, độn ngô vì chẳng biết sẽ đói đến bao giờ. Từ thuở bé tôi chưa từng phải ăn độn ngô khoai, ăn cháo cám nhưng lúc đó phải ăn tất mà lạ lùng là năm đói, ăn thứ gì cũng ngon, cũng mau tiêu hóa dù chỉ cơm với muối hay nước mắm. Nay chúng ta mới nghiệm ra ăn không có thịt cá (protein) như thế, mau đói là phải.

Xóm giềng chết quang lơ ra. Mọi khi đàng trước nhà tôi là nhà của gia đình chú Am, gia đình cô Bồng, gia đình anh Chắt...; đàng sau, bên trái, bên phải cũng là những mái nhà, đông đảo, vui vẻ sầm uất là thế mà giờ đây, trước mặt, sau lưng, bên đông bên tây nhà tôi đều đã chết sạch cả, nhiều căn nhà bỏ hoang, nhìn vào thấy rờn rợn như những oan hồn uổng tử chết đói không thể siêu thoát vẫn còn lẩn quẩn với mái nhà thân yêu khi xưa gia đình xum họp.

Mỗi buổi tối khi mặt trời sắp tắt là cổng ngõ, cửa nẻo đã phải  đóng lại, gài then cho chắc. Người người đều ở trong nhà, tắt đèn nằm trong ổ rơm... chờ sáng; khi nào buồn ngủ thì ngủ. Anh trai tôi và hai người anh rể đã võ trang bằng gậy gộc, dao rừng; hễ  ăn cướp đến là phải liều chết đánh chứ biết sao. Nhưng rất may, cả vụ đói, nhà tôi không bị cướp tấn công mặc dù chúng biết nhà tôi còn một chút gạo cầm hơi. Mẹ tôi đã chia sẻ cho những người nghèo những gì bà có thể cho đến khi trong nhà đã kiệt quệ chỉ còn lại chút ít cho chính mình. Có lẽ vì vậy mà nhiều nhà trong tổng có máu mặt bị dân nghèo xông vào hôi của nhưng nhà thầy mẹ tôi thì không.

Tám mẹ con tôi nằm chung trong một cái ổ rơm, vừa bớt lạnh, vừa bớt sợ. Dù nhà đã có cổng ngõ xây và tường xây cắm mảnh sành chai bên trên - thầy tôi kĩ lắm - nhưng vì thổ đất quá rộng, có những chỗ hàng rào vẫn là bụi tre, kẻ gian có thể chặt tre chui vào.

Hệ thống hành chánh an ninh xã, thôn tê liệt vì đói. Mạnh ai nấy lo, dù cướp trộm có đến viếng cũng chẳng còn ai chạy đến giúp mình. Trước kia đêm nào cũng có tuần đinh đi tuần rỏn, canh gác, nhờ vậy kẻ gian không dám xuất đầu lộ diện. Giờ này, làng xóm như một bãi tha ma, đêm tối mịt mùng không thấy một đốm lửa, không một tiếng tù và, một tiếng chó sủa, mèo kêu mà thỉnh thoảng chỉ nghe mấy con cú mèo đến rúc  nghe rợn tóc gáy

Một đêm, mẹ con tôi vừa ngủ được một giấc ngắn thì bỗng nghe mẹ gọi:

“Các con ơi ! Nghe như có đứa nào đang chặt bắp cải ngoài vườn.”

Chúng tôi nghe mẹ gọi đều thức giấc. Tôi nghe tiếng chặt rõ ràng ở vườn trước. Anh tôi nói:

“Ðể con với anh Giáo cầm gậy ra coi. Phải đánh cho nó chạy chứ !”

Mẹ tôi bảo:

“Thôi, các con! Mẹ đoán kẻ ăn trộm là chú Giồng đó. Hồi chiều mẹ gọi chú cho chú vài bơ gạo, lại dẫn chú ra vườn chỉ hai cây cải bắp lớn bảo chú chặt đưa về cho con chú ăn

Chú ta nhìn xoi mói mấy cây cải bắp còn lại có ý thèm thuồng. Mẹ đoán chú chứ không ai đâu. Thôi kệ cho chú ta chặt, nhà ăn ít đi vậy. Vả lại, ra ngoài ban đêm rất nguy hiểm. Kẻ trộm có thể chém mình thoát thân, các con chưa đủ sức đương đầu.”

Sáng sớm hôm sau, ra coi thì hơn chục cây cải bắp hôm qua chỉ còn lại vài cây nhỏ. Như mọi khi còn con Vàng, con chó đực mẹ tôi nuôi đã vài năm, đâu ăn trộm có thể tự tung tự tác như thế. Ðói đã lâu nhưng mẹ tôi vẫn cố nuôi con Vàng vì thương nó. Chẳng riêng mẹ mà cả chúng tôi đều thương con Vàng.

Mùa hè, tôi thường dẫn nó ra bến sông, lấy xà phòng tắm cho nó, nó để yên cho tắm. Xong tôi bơi ra giữa dòng nước và gọi nó, nó bơi ra. Khi tôi ném khúc gỗ dài hai gang tay sơn đỏ sang tuốt bờ sông bên kia là nó bơi sang ngoạm lấy đem về. Có khi tôi sải phía trước, nó lõm bõm bơi phía sau, dù xuôi hay ngược dòng. Một bữa trưa, mấy mẹ con ăn cơm, như thông lệ, tôi xúc một bát cơm trên mặt nồi, gọi nó cho nó ăn, sau đó tôi mới ngồi vào mâm. Nhưng gọi hoài không thấy nó xuất hiện, tôi ngó các gầm giường nơi nó hay nằm, không thấy, tôi ra vườn sau, ra vườn trước, chẳng tăm hơi.

Tôi ra đường xem nó có tha thẩn ngoài đó không, tôi gọi:”Vàng, Vàng”. Vẫn biệt dạng. Tôi linh cảm có sự không hay xẩy ra cho nó, liền cấp báo cho mẹ tôi và cả nhà. Mẹ và chúng tôi mỗi người một hướng, bổ đi tìm con Vàng, bỏ cả bữa cơm chưa ăn nhưng biệt vô âm tín. Hỏi mấy người cùng xóm họ nói sáng nay có một bọn đàn ông lạ từ đâu đền không biết, tay cầm thòng lọng, thứ để bắt chó, tay cầm những cái cũi bằng tre đan thật dầy để nhốt chó. Không biết có phải đám người này bắt chó của nhà tôi hay không ?

“Thôi, tội nghiệp,” mẹ tôi nói, “có lẽ con Vàng đã bị bắt rồi.”

Mẹ con tôi trở về mà lòng buồn vô hạn, gần  như vừa mất một người thân yêu trong gia đình.

Cũng vì mất con Vàng mà đàn gà cũng mất theo. Cũng trong thời kỳ tháng ba năm đói, đàn gà gần hai chục con mẹ tôi gầy từ một  con  gà trống và một con gà mái  mà ra.

Khi đói kém, mẹ tôi bảo chúng tôi, các con muốn ăn thịt con nào cứ bắt mà ăn, thóc để người ăn không đủ sao có thể nuôi gà. Thế là trong tuần đó, ngày nào anh tôi cũng vặt lông một con gà. Hình như kẻ trộm sợ chúng tôi ăn hết, một đêm, khoảng quá nửa đêm, mẹ tôi giật mình thức giắc vì tiếng gà kêu “quác quác “ ngoài chuồng. Mẹ tôi đoán ra ngay có kẻ ăn trộm gà, nhưng cũng như vụ trộm rau, mẹ bảo chúng tôi kệ cho chúng lấy. Ra nguy hiểm.

  sao kẻ gian cũng sợ người ngay, nhất là kẻ gian toàn những người xóm ngõ, quen biết, gia chủ nhìn mặt được thì quá xấu hổ nên chúng chỉ bắt bốn, năm con, còn để lại dăm, bảy con. Mẹ tôi cũng đoán ra được ai là kẻ ăn trộm gà, bà bảo chúng tôi nếu bây giờ vào nhà họ là thấy lông gà ở trong bếp ngay.

 

(còn tiếp)

 

 

 

"..Go into whole world and proclaim the gospel to every creature(MK 16:15)"
For question or comments please write to Dan Than magazine

"copyright © 2006"

Dan Than Magazine, P.O Box 5474 Katy, Texas 77491-5474
For questions about this site contact our Webmaster