|
|
|
|
|
SƯU TẬP NHỮNG BẢN VĂN Của Hội Đồng Giáo Hoàng Cổ Võ Công Lý Và Hoà Bình CHƯƠNG HAI CON NGƯỜI I. Phẩm Giá của Con Người 39. Thật vậy, việc dạy và phổ biến học thuyết xã hội của Giáo Hội, tuỳ thưộc sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội, đó là một phần chính yếu của sứ vụ Kitô giáo, bởi vì học thuyết này trình bày những hậu quả trực tiếp của sứ điệp ấy trong đời sống xã hội và đặt việc lao động hằng ngày và sự tranh đấu cho công bình vào trong khuôn khổ của sự làm chứng cho Chúa Kitô Cứu Thế. Học thuyết đó cũng là nguồn mạch sự hiệp nhất và hoà bình trước những xung đột phát xuất chắc chắn trong lãnh vực kinh tế và xã hội. Như vậy, có thể sống những hoàn cảnh mới mà không làm giảm giá trị siêu việt của con người, không ở trong chính con người, cũng không ở nơi kẻ thù, và có thể tìm ra con đường cho những giải pháp đúng. (Centesimus Annus, n. 5) 40. Đó mới là tại sao ngày nay Giáo Hội có một lời để nói, như cách đây 20 năm, và trong tương lai nữa, về bản tính, về những điều kiện, về những yêu cầu và những mục đích của sự phát triển chính hiệu, và cũng về những trở ngại ngăn cản sự phát triển đó. Làm được như vậy, Giáo Hội hoàn thành sứ vụ rao giảng Tin Mừng của mình, bởi vì Giáo Hội mang đến sự đóng góp đầu tiên của mình để giải quyết vấn đề cấp bách của sự phát triển, khi Giáo Hội công bố chân lý về Chúa Kitô, về chính mình và về con người, bằng cách áp dụng chân lý đó vào một hoàn cảnh cụ thể (x. Gioan Phaolô II, Diễn văn tại Hội Đồng Chung lần thứ ba của các Giám Mục Châu Mỹ Latinh, 1979). Khí cụ Giáo Hội sử dụng để đạt mục đích này là học thuyết xã hội của mình. Trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, muốn biệt đãi việc phát biểu phải phép các vấn đề cũng như giải pháp tốt nhất của chúng, thì điều rất hữu ích là có được một sự hiểu biết chính xác hơn và bảo đảm một sự phổ biến sâu rộng hơn về "toàn thể những nguyên tắc suy tư và những tiêu chuẩn phán đoán, và còn những chỉ dẫn hành động" được đề xướng trong huấn giáo của Giáo Hội (Libertatis conscientia, n. 72; Octogesima Adveniens, n. 4). Như vậy người ta nhận thấy ngay rằng những vấn đề phải đương đầu, trước hết có tính luân lý, và sự phân tích vấn đề phát triển như thế đó, cũng như những phương thế vượt thắng những khó khăn hiện tại, không thể loại bỏ chiều kích chủ yếu này. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 41) 41. Trong sự sống con người, hình ảnh Thiên Chúa sáng chói lại và tự biểu lộ trong tất cả sự viên mãn của nó khi Con Chúa đến trong thân xác con người; "Người là hình ảnh Thiên Chúa vô hình" (Cl 1, 15), "Người là phản ảnh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa" (Dt 1, 3). Người là hình ảnh hoàn hảo của Chúa Cha. (Evangelium vitae, n. 36) 42. Nếu ta nhìn về tận nguồn gốc và vận mệnh con người, mới thấy được nét cao cả của phẩm giá con người: được sáng tạo theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, và được cứu chuộc bằng Máu châu báu của Đức Kitô, con người được kêu gọi làm "con trong Người Con", và là đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần, và được dành cho sự sống đời đời trong sự kết hiệp hồng phúc với Thiên Chúa. Do đó, mọi xúc phạm đến phẩm giá của mỗi ngôi vị con người đều kêu gào được Thiên Chúa báo oán, và là sự xúc phạm đến Đấng sáng tạo con người. (Christifideles Laici, n. 37) 43. Nếu chúng ta xem xét phẩm giá con người dưới ánh sáng các chân lý do Chúa mặc khải, chúng ta chỉ có thể nâng nó lên cao hơn nữa. Con người được cứu chuộc bằng máu Chúa Kitô Giêsu, nhờ ân sủng được làm con và bạn hữu Thiên Chúa và được lập nên những kẻ thừa hưởng gia tài vinh quang muôn đời. (Pacem in Terris, n. 10) 44. Dựa trên đức tin ấy, Giáo Hội có thể cứu gỡ phẩm giá của bản tính con người khỏi mọi trào lưu tư tưởng di động không ngừng giữa sự khinh dễ và tôn sùng thái quá đối với thân xác con người. Không một luật lệ nhân bản nào có thể bảo đảm phẩm vị và tự do con người cách thích đáng bằng Tin Mừng Chúa Kitô, đã được trao phó cho Giáo Hội (x. Rm 8, 14). Tin Mừng này loan báo và công bố sự tự do của con cái Thiên Chúa, phủ nhận mọi hình thức nô lệ, vì mọi ách nô lệ rốt cuộc đều bởi tội mà ra. Tin Mừng tôn trọng triệt để phẩm giá và quyết định tự do của lương tâm, lại không ngừng nhắc nhở phát huy mọi tài năng để phụng sự Thiên Chúa và mưu ích cho mọi người. Sau hết, Tin Mừng còn dạy mọi người phải thương yêu nhau (x. Mt 22, 39). Những điều đó phù hợp với luật căn bản trong nhiệm cuộc cứu rỗi của Kitô giáo. Vì, tuy Thiên Chúa vừa là Đấng Cứu Độ, vừa là Đấng Tạo Dựng, vừa làm Chủ lịch sử nhân loại, vừa làm Chủ lịch sử cứu rỗi, nhưng trong chương trình của Thiên Chúa, sự tự trị đúng mức của tạo vật và nhất thiết là của con người không hề bị huỷ diệt, trái lại còn được phục hồi và củng cố trong phẩm giá riêng. Vậy, Giáo Hội dựa vào Phúc Âm đã được uỷ thác cho mình mà công bố những quyền lợi của con người, nhìn nhận và tôn trọng năng động của thời hiện đại đang cô võ những quyền lợi ấy khắp nơi. Tuy nhiên những trào lưu ấy phải được thấm nhuần tinh thần Phúc Âm và phải được bảo vệ cho khỏi nhiễm mọi hình thức tự trị sai lầm. Thực vậy, chúng ta dễ bị cám dỗ nghĩ rằng các quyền lợI của chúng ta chỉ được duy trì trọn vẹn khi trút bỏ mọi Luật lệ của Thiên Chúa. Nhưng thực ra, đó là đường lối làm cho phẩm giá con người chẳng những không được duy trì mà còn bị tiêu tan đi. (Gaudium et Spes, n. 41) 45. Điều phải được kể đến, đó là phẩm giá ngôi vị con người, mà Đấng Sáng Tạo đã giao phó cho chúng ta phải bảo vệ và khuyến khích, và những người nam và nữ trong tất cả hoàn cảnh xã hội, có trách nhiệm và mang nợ cách tuyệt đốùi đối với phẩm giá đó. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 47) 46. Phẩm giá của ngôi vị con người là một giá trị siêu việt, luôn được công nhận như thế bởi những kẻ quyết tâm tìm kiếm chân lý. Tất cả lịch sử nhân loại trên thực tế phải được giải thích dưới ánh sáng của sự đích thực này. Tất cả mọi người, được dựng nên giống hỉnh ảnh và giống Chúa (x St 26-28) và như thế là hướng triệt để về Đấng Sáng Tạo mình, ở trong liên quan thường xuyên với những ai cùng chung một bản tính. Việc khuyến khích điều thiện của cá nhân như vậy chung phần vào việc phục vụ công ích, nơi nào những quyền lợi và những bổn phận tương ứng và tăng cường cho nhau. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1999, n. 2) 47. Thật vậy, như thánh Phaolô viết, "ở đâu có Thần Khí của Chúa, ở đó có tự do" (2 Cr 3, 17). Mặc khải về sự tự do, và như vậy là về phẩm giá đích thực của con người, đạt được sức thuyết phục lạ lùng cho các Kitô hữu và Giáo Hội đang bị bắt bớ, hoăïc trong các thời kỳ xa xưa hoặc hiện nay, bởi vì những chứng nhân của Chân Lý thần linh bấy giở trở thành một bằng chứng sống động qua hành động của Thần Khí Chân Lý, hiện diện trong lòng và lương tâm các tín hữu, và không phải là hoạ hiểm việc các ngài dùng sự tử đạo để chứng minh phẩm giá con người đáng suy tôn tuyệt đỉnh. (Dominum et Vivificantem, n. 60) II. Tự do và Chân Lý 48. Vấn nạn luân lý đã nhận được lời giải đáp của Đức Kitô, không thể loại trừ vấn nạn về tự do, nhưng đặt vấn nạn về tự do vào ngay giữa trung tâm, bởi lẽ không có luân lý nếu không có tự do. "Con người quay về điều thiện luôn luôn trong tình trạng tự do" (GS, n. 11) Thế nhưng tự do nào ? Những người đương thời với chúng ta "rất ư đề cao" tự do và "hăng say đeo đuổi" tự do, nhưng lại thường "cưng chiều tự do một cách thiếu ngay thẳng", coi tự do như là quyền được làm bất cứ điều gì, miễn sao tạo được thoả thích, kể cả điều xấu". Đối lại với họ, Công Đồng trình bày tự do thật như sau: "Tự do thật là dấu chỉ đãi ngộ nơi con người chứng tỏ con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Bởi vì Thiên Chúa đã muốn để cho con người tự bàn hỏi với chính mình (x. Hc 15, 14) ngõ hầu con người có thể tự mình tìm kiếm Đấng Tạo Hoá và nhờ gắn bó với Ngài một cách tự do mà đạt mức thành toàn trong một tình trạng viên mãn chân phúc" (GS, n. 17). Nếu trong hành trình truy tầm chân lý, mình có quyền được tôn trọng, thì trước đó mọi người đều đã có bó buộc luân lý nghiêm trọng là phải tìm kiếm chân lý, và một khi đã nhận biết chân lý, phải gắn bó với chân lý. (Veritatis Splendor, n. 34) 49. Sự tự do tự bản tính nó là nội tại đối với con người, đồng bản tính với con người, là dấu riêng biệt của bản tính con người. Thật vậy sự tự do con người tìm thấy nền tảng mình trong phẩm giá siêu việt con người: một phẩm giá được Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo ban cho, và hướng con người về Chúa. Con người, vì được dựng nên giống hình ảnh Chúa (x. St 1, 27), không chia cắt khỏi sự tự do, sự tự do mà không một quyền lực nào hay một sự cưỡng bức nào bên ngoài có thể tước đoạt, sự tự do đó làm thành một quyền cơ bản của con người, với tư cách cá nhân như thành phần xã hội. Con người có tự do bởi vì nó có khả năng tự quyết định về sự lành và sự dữ. (Sứ điệp cho ngày thế giới hoà bình, 1981, n. 5) 50. Chúa Giêsu Kitô đi gặp con người của mọi thời đại, kể cả của thời đại chúng ta, cũng với những lời nói này: "Các ông sẽ biết sự thật và sự thật sẽ giải phóng các ông" (Ga 8, 32). Những lới nói đó chứa đựng một yêu sách cơ bản và đồng thời một cảnh cáo: yêu sách sống lương thiện đối với chân lý như điều kiện của một tự do đích thực; và còn là sự cảnh cáo tránh tất cả những tự do giả trá, tất cả những tự do hời hợt và một chiều, tất cả những tự do không đi tới cùng sự thật về con người và về thế giới. (Redemptor Hominis, n. 12) 51. Nhưng sự tự do không những là một quyền người ta đòi hỏi cho mình, đó là một bổn phận người ta phải gánh vác đối với mọi người khác. Muốn thực sự phục vụ hoà bình, sự tự do của mỗi người và của mỗi cộng đồng nhân bản phải tôn trọng những tự do và những quyền lợi những kẻ khác, cá nhân hay tập thể. Trong phương diện này sự tự do bị hạn chế, nhưng nó cũng gặp được sự hợp lý (logique) của nó và giá trị của nó, bởi vì con người tự bản tính là một hữu thể xã hội. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1981, n. 7) 52. Tự do không phải là muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm. Quan niệm "con người là một chủ thể tự do, tự túc tự mãn, chỉ cần lo cho lợi ích riêng mình bằng cách lo hưởng thụ các lạc thú trần thế là điều sai lầm "(Libertatis Conscientia, n. 13). Mặt khác, Những điều kiện về kinh tế và xã hội, chính trị và văn hoá cần thiết để thực thi tự do cách chính đáng, lắm khi bị phủ nhận và vi phạm. Những sự mù quáng và bất công này làm băng hoại đời sống luân lý và tạo dịp cho kẻ mạnh cũng như người yếu phạm tội nghịch đức ái. Khi xa lìa luật luân lý, con người làm thương tổn tự do của chính mình, làm nô lệ cho tính ích kỷ, cắt đứt tình huynh đệ với đồng loại và nổi loạn chống lại ý Chúa. (CEC, n. 1740) 53. Dầu vậy, Đấng Sáng Tạo thế giới đã ghi khắc trật tự trong đáy lòng con người: trật tự mà lương tâm mặc khải cho con người và dạy con ngưởi biết kính trọng: "Họ cho thấy là điều gì luật đòi hỏi, thì đã được ghi khắc trong lòng họ, lương tâm họ cũng chứng thực điều đó" (Rm 2, 15). Làm sao mà không phải như vậy được, bởi vì tất cả những công trình của Chúa phản ảnh sự khôn ngoan vô cùng của Người, và các công trình đó càng cao trong thang các sự vật, thì phản ảnh càng rõ ràng sự khôn ngoan ấy (x. Tv 18, 8-11). (Pacem in Terris, n. 5) 54. Theo ý định của Thiên Chúa, mỗi người được kêu gọi tự phát triển bởi vì tất cả sự sống là ơn gọi. Từ mới sinh, tất cả đều được ban cho, còn manh nha, một tổng hợp những bẩm tính và những năng lực phải làm cho nẩy nở: sự nẩy nở những thứ đó, hoa quả của giáo dục nhận lãnh từ môi trường và cố gắng cá thể, sẽ cho phép mỗi người hướng về vận mạng mà Đấng Sáng Tạo định cho họ. Được ban cho trí tuệ và quyền tự do, con người chịu trách nhiệm về sự lớn lên của mình, cũng như về phần rỗi của mình. Được trợ giúp, thỉnh thoảng bị trở ngại bởi những kẻ giáo dục mình và bao vây mình, mỗi một người vẫõn là tác giả chính tạo thành công hay thất bại của mình, mặc cho những ảnh hưởng gì tác động trên nó: duy chỉ nhờ cố gắng của lý trí và ý chí mình, mà mỗi người có thể lớn lên trong nhân đạo, có giá trị hơn, làm người hơn. (Populorum progressio, n. 15) 55. Sau cùng, khi đãõ hoàn tất trên thánh giá công trình cứu chuộc, nhờ đó mà con người được ơn cứu rỗi và sự tự do thật, Người đã hoàn thành mặc khải của Người. Người đã làm chứng cho chân lý, nhưng Người không muốn dùng quyền áp đặt chân lý trên những kẻ chống đối Người. Nước Người, thật vậy, không được bảo vệ bằng gươm giáo, nhưng Nước đó được thiết lập bằng cách nghe chân lý và làm chứng cho chân lý, Nước đó lan rộng nhờ tình yêu qua đó Chúa Kitô, bị treo lên thánh giá, lôi kéo tất cả mọi người đến với Người (x. Ga 12, 32). (Dignitatis Humanae, n. 11) 56. Sau cùng, sự tự do thật không được xúc tiến gì hơn trong một xã hội rộng phép (société permissive), một xã hội lầm lẫn sự tự do với quyền được làm bất cứ sự chọn lựa nào và lấy danh nghĩa tự do mà tuyên bố một chủ thuyết vô luân nói chung. Đây là đề ra một sự tự do bù nhìn, khi cho rằng con người có tự do tổ chức đời sống mình mà không cần qui chiếu tới những giá trị luân lý, và xã hội không có trách nhiệm bảo vệ và khuyến khích những giá trị đạo đức. Một thái độ như thế là phá hoại tự do và hoà bình. (Sứ điệp ngay thế giới hoà bình, 1981, n. 7). 57. Và Giáo Hội không không biết sự nguy hiểm của chủ thuyết cuồng tín, hay trào lưu chính thống (fondamentalisme) về phía những người nhân danh một ý thức hệ cho mình là có tính khoa học và tôn giáo, cho mình có quyền áp đặt trên kẻ khác quan niệm của mình về tự do và sự thiện. Chân lý Kitô giáo không thuộc loại này. Vì không phải là một ý thức hệ, đức tin Kitô giáo không chút nào muốn nhốt thực tại xã hội hoặc chính trị hay thay đổi trong khuôn khổ một kiểu mẫu cứng nhắc, và đức tin Kitô giáo nhìn nhận rằng sự sống con người thực hiện trong lịch sử bằng những cách thức khác biệt và bất toàn. Tuy nhiên Giáo Hội, vì luôn tái khẳng định giá trị siêu việt của con người, lấy sự tôn trọng quyền tự do làm chương trình hành động của mình. (Centesimus Annus, n. 46) 58. Nền dân chủ không thể có được mà không có một sự dấn thân chia sẻ đối với một số chân lý luân lý về con người và về cộng đồng nhân loại. Vấn đề cơ bản một xã hội dân chủ phải tự đặt cho mình là: "Chúng ta phải sống với nhau cách nào ? Khi tìm câu trả lời cho câu hỏi này, xã hội có thể loại trừ chân lý luân lý và sự lý luận luân lý chăng ?… Mỗi một thế hệ…. phải biết rằng tự do không phải là muốn làm theo ý mình, nhưng có quyền làm cái gì thuộc bổn phận mình. Chúa Kitô xin
chúng ta giữ gìn chân lý bởi vì, như Chúa đã hứa với chúng ta: "Các ông
sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông" (Ga 8, 32). Hãy bảo
toàn giáo lý đã được giao phó cho anh ! (Depositum custodi !) Chúng ta phải
giữ chân lý, vì chân lý là điều kiện của sự tự do chân chính, chân lý cho
phép thực hành sự tự do trong lòng nhân từ. Chúng ta phải giữ chân lý Chúa đã
giao phó cho chúng ta trong Giáo Hội, cách riêng trước những thách đố mà một
nền văn hoá vật chất và một não trạng hơi rộng phép nêu lên bắt sự tự do phục
tùng sự cho phép. (Giaon Phaolo II,
Bài giảng tại 59. Nhưng nguơời ta không thể không biết những qui định nhiều vô số, bắt buộc sự tự do của từng cá nhân phải hành động y như vậy; chắc là những qui định đó ảnh hưởng tới sự tự do, nhưng không quyết định sự tự do; những qui định đó biến việc thực thi sự tự do thành nhiều hay ít dễ dàng, nhưng không thể tiêu huỷ. Không những người ta không có quyền phủ nhận, trên phương diện đạo đức, bản tính con người được sinh ra vì tự do, nhưng trên thực tế, điều đó cũng không thể xảy ra được. Nơi nào xã hội tự tổ chức mà tùy tiện giảm thiểu hay thậm chí huỷ bỏ môâi trường trong đó quyền tự do thực thi cách hợp pháp, thì hậu quả là sự sống xã hội tan rã từ từ và tàn tạ. (Centesimus Annus, n. 25) III. Bản Tính Xã Hội Của Con Người 60. Lấy tình Cha săn sóc mọi người, Thiên Chúa đã muốn rằng tất cả mọi người phải làm thành một gia đình và đối xử với nhau bằng tình huynh đệ. Bởi vì mọi người được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa là Đấng đã "cho tất cả nhân loại do một nguyên tổ cư ngụ trên khắp mặt đất" (Cv 17, 26), nên họ đều được gọi tới cùng một cứu cánh duy nhất là chính Thiên Chúa. Do đó yêu mến Thiên Chúa và anh em là giới răn thứ nhất và trọng nhất. Thánh Kinh dạy ta rằng tình yêu mến Thiên Chúa không thể tách rời với tình yêu anh em: "… nếu có điều răn nào khác đi nữa cũng gồm tóm trong lời này: hãy yêu thương anh em như chính mình… Thương yêu là chu toàn luật pháp vậy" Rm 13, 9-10; x. 1 Ga 4, 10). Điều nói trên cũng được nhận là quan trọng nhất đối với con người mỗi ngày một lệ thuộc nhau hơn cũng như đối với thế giới ngày càng hiệp nhất lại. Hơn nữa, khi cầu nguyện với Chúa Cha: "Xin cho mọi người nên một …, như chúng ta là một" (Ga 17, 21-23), Chúa Giêsu mở ra những viễn tượng mà lý trí con người không thể tự đạt tới được. Như vậy Chúa Giêsu đã nói lên một sự tương tự nào đó giữa sự kết hợp của Ba Ngôi Thiên Chúa với sự kết hợp của các con cái Chúa trong chân lý và đức ái. Sự tương tự này cho thấy con người, tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ, chỉ có thể gặp lại chính bản thân mình nhờ thành thực hiến thân (x. Lc 17, 33) Đặc tính xã hội của con người cho thấy rõ sự thăng tiến của con người và sự phát triển xã hội lệ thuộc nhau. Thực vậy, nhân vị chính là và phải là nguyên lý, chủ thể và cứu cánh của mọi định chế xã hội. Cho nên vì đời sống xã hội đối với con người không phải là một cái gì phụ thuộc, do đó nhờ trao đổi với người khác, nhờ phục vụ lẫn nhau và nhờ đối thoại với anh em, con người được tăng triển mọi khả năng của mình và có thể đáp ứng được thiên chức của mình. (Gaudium et Spes, nn 24-25) 61. Theo nguyên tắc cơ bản của quan niệm này- cũng như suy ra từ tất cả những gì chúng ta đã nói tới đây- những hữu thể nhân bản là và phải là nền tảng, mục đích và chủ thể của tất cả mọi định chế biểu lộ sự sống xã hội. Mỗi một người, đã là điều gì mình là, phải được quí trọng theo bản tính xã hội nội tại của nó và trên chương trình Chúa quan phòng đưa họ lên trật tự siêu nhiên. (Mater et Magistra, n. 219) 62. Có những mối liên hệ xã hội đáp ứng trực tiếp được bản tính sâu xa của con người, đó là gia đình và nhà nước. Chúng cần thiết cho con người. Để đa số có thể tham gia đời sống xã hội, nên khuyến khích thành lập các hiệp hội và những tổ chức nhằm các mục đích kinh tế, văn hoá, xã hội, thể thao, giải trí, nghề nghiệp, chính trị trên bình diện quốc gia cũng như quốc tế. (MM, n. 60). Công cuộc "xã hội hoá" này đặt nền tảng trên xu hướng tự nhiên thúc đẩy con người hợp tác với nhau, để đạt tới những mục tiêu vượt quá khả năng của từng người. Công cuộc này giúp phát triển các đức tính của con người, nhất là óc sáng kiến và tinh thần trách nhiệm, cũng như giúp bảo đảm các quyền của con người (GS, n. 25; CA, n. 12). ( CEC, n. 1882) 63. Nhưng mỗi người là thành phần xã hội: nên tùy thuộc vào toàn thể nhân loại. Không những là người này hay người kia mà thôi, nhưng tất cả mọi người đềøu được kêu gọi phát triển đầy đủ như thế đó. Những nền văn minh sinh ra, lớn lên và chết. Nhưng, cũng như những đợt sóng thuỷ triều dâng lên, chảy vào xa hơn một chút trên bãi cát, cũng vậy nhân loại tiến tới trên con đường lịch sử. Là những kẻ thừa kế của những thế hệ đã qua và thừa hưởng công trình của những kẻ đồng thời, chúng ta có những bổn phận đối với mọi người và chúng ta không thể làm ngơ những kẻ sẽ đến sau chúng ta và mở rộng phạm vi gia đình nhân loại. Tình liên đới phổ quát là một thực tại, và là một lợi ích cho chúng ta, nó cũng là một bổn phận. (Populorum progressio, n. 17) 64. Trừ gia đình ra, những nhóm xã hội trung gian khác hoàn thành những vai trò sơ đẳng và thực hiện những mạng lưới liên đới riêng biệt. Những nhóm này đạt tới sự thành thục của những cộng đồng nhân vị thật sự và phân bố thần kinh tới mô xã hội (tissu social), bằng cách ngăn cản nó rơi vào trong tính phi nhân cách và tính vô danh của quần chúng, vô phúc thay những sự kiện này thường xảy ra trong xã hội hiện nay. Chính trong sự chồng chéo của những quan hệ đa dạng là nơi sống của con người và là nơi phát triển "nhân cách" của xã hội. Cá nhân con người ngày nay thường bị nghiền nát giữa hai cực Nhà Nước và thị trường. Thật vậy, thỉnh thoảng cá nhân xem ra chỉ hiện hữu như kẻ sản xuất va tiêu thụ những hàng hoá, hay là như kẻ bị trị của Nhà Nước, mà người ta quên rằng sự hoà đồng (convivialité) không có cùng đích là Nhà Nước và thị trường, bởi vì tự nó nó có một giá trị duy nhất mà Nhà Nước và thị trường phải phục vụ. Con người trước tiên là một hữu thể tìm kiếm chân lý và ra sức sống theo chân lý này, và nghiên cứu sâu xa chân lý đó trong một cuộc đối thoại liên tục bao gồøm các thế hệ đã qua và sẽ đến. (Centesimus Annus, n. 49) 65. Ngược lại, từ quan niệm Kitô giáo về con người, mà phát sinh cách khẩn thiết một quan điểm đúng về xã hội. Theo Rerum Novarum và toàn bộ học thuyết xã hội của Giáo Hội, đặc tính xã hội của con người không tiêu hao trong Nhà Nước, nhưng nó tự thực hiện trong những nhóm trung gian khác biệt, từ gia đình cho chí những nhóm kinh tế, xã hội, chính trị và văn hoá, vì xuất phát từ cùng một bản tính con người, nên có - luôn trong khuôn khổ công ích - nền tự trị riêng của mình. Đó là điều tôi đã gọi là "nhân cách" xã hội, điều mà với cá tính cá nhân, đã bị "chủ thuyết xã hội thứ thiệt" loại trừ hẵn. (Centesimus Annus, n. 13) IV. Nhân Quyền 66. Tất cả mọi người có quyền sống, toàn vẹn thể lý, có những phương tiện cần thiết và đủ để sống xứng đáng, nhất là trong những gì liên quan tới thức ăn, đồ mặc, nơi ở, nghỉ ngơi, những chăm sóc thuốc men, những dịch vụ xã hội. Do đó, con người có quyền được an toàn trong lúc bệnh hoạn, khuyết tật, goá bụa, già cả, thất nghiệp và mỗi khiù thiếu những phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh ngoài ý muốn của nó. (Pacem tin Terris, n. 11) 67. Sau cuộc sụp đổ chủ nghĩa cực quyền cộng sản và nhiều chế độ cực quyền khác và chế độ "an ninh quốc gia", hiện nay người ta chứùng kiến, không phải là không có đấu tranh, sự thành công lý tưởng dân chủ trong thế giới, đi đôi với sự lưu tâm nhiều và lo lắng nhiệt tình cho những quyền lợi con người. Nhưng chính vì muốn đi trong chiều hướng này, điều cần thiết là các dân đang cải tổ những cơ chế của mình, phải làm cho nền dân chủ có một nền tảng đích thực và vững chắc nhờ sự hiểu biết rõ ràng những quyền này (x. Redemptoris Hominis, n. 17). (Centesimuc Annus, n. 47) 68. Nền tảng của mọi xã hội có qui củ và phong phú, đó là nguyên lý tất cả mọi con người đều là nhân vị, nghĩa là một bản tính có lý trí và ý chí. Do đó, con người có những quyền và những nhiệm vụ, cả hai phát xuất, một lượt và tức khắc, từ bản tính con người: cho nên những quyền và trách nhiệm đó có tính phổ quát, bất khả xâm phạm, không thể đổi chác. (Pacem in Terris, n. 9) 69. Nếu những quyền con người bị xúc phạm trong thời bình, thì điều đó trở nên thật đáng buồn; về phương diện phát triển, điều đó nói lên một hiện tượng không thể hiểu tranh đấu chống lại con người, và sự kiện này không thể nào phù hợp với một chương trình nào tự xưng là "nhân đạo" (humaniste). (Redemptoris Hominis, n. 17) 70. Quyền cơ bản khác của con người, là sự bảo vệ pháp lý những quyền lợi riêng của con ngườiù, sự bảo vệï hiệu nghiệm, bình đẳng cho mọi người và xứng hợp với những quy luật khách quan phép công bình: "Từ trật tự pháp lý, như Chúa muốn, phát sinh cho con người, quyền không thể nhượng này, thứ quyền bảo đảm cho mỗi người sự an toàn pháp lý và một phạm vi cụ thể những quyền, được bảo vệ khỏi tất cả xâm lấn tùy tiện " (Piô XII, Sứ điệp Giáng Sinh, 1942). (Pacem in Terris, n. 27) 71. Tôn trọng nhân vị gồm cả việc tôn trọng các quyền phát sinh từ phẩm giá của thụ tạo là con người. Các quyền này không do xã hội ban cho và xã hội phải công nhận chúng. Các quyền ấy là cơ sở để mọi quyền bính có được hợp pháp về mặt luân lý. Khi chà đạp hay phủ nhận các quyền ấy trong luật pháp hiện hành của mình thì xã hội tự phá hoại tính hợp pháp về mặt luân lý của chính mình (Pt. n. 65). Không có sự tôn trọng nhân vị, quyền bính chỉ có thể dựa trên sức mạnh hay bạo lực, để bắt buộc các thành viên phải phải tùng phục. Hội Thánh phải nhắc nhở những người thiện chí về những quyền này và phân biệt chúng với những đòi hỏi quá đáng hay sai lầm. (CEC, n. 1930) 72. Và một khi các quy luật đời sống tập thể được viết bằng những từ ngữ chỉ những quyền và những trách nhiệm, con người tự mở ra đối với những giá trị thiêng liêng và hiểu được chân lý, công lý, tình yêu, tự do, là gì ; họ mới thấy mình thuộc về một xã hội có trật tự này. Vả lại, họ hướng về việc hiểu biết hơn Thiên Chúa chân thật, siêu việt và ngôi vị. Bấy giờ những tương quan của họ với Chúa được họ xem như là chính nền tảng của sự sống, sự sống thân tình sống nơi bí ẩn linh hồn và của sự sống mà họ sống trong đoàn thể với kẻ khác. (Pacem in Terris, n. 45) 73. Những hiệp hội tư chỉ hiện hữu trong lòng xã hội dân sự mà chúng là như các thành phần vậy. Tuy nhiên không vì đó mà Nhà Nước có quyền phủ nhận sự hiện hữu của chúng, đó là chỉ nói cách chung và chỉ xem xét bản tính của chúng. Quyền hiện hữu chính thiên nhiên đã ban cho chúng, và xã hội dân sự đã được thiết lập để bảo vệ quyền thiên nhiên, chớ không phải để huỷ bỏ. Do đó, một xã hội dân sự nào ngăn cấm những hiệp hội tư thì tự tấn công mình, bởi vì tất cả mọi xã hội, công hay tư, phát sinh từ một nguyên lý: tính xã giao tự nhiên của con người. (Rerum Novarum, n. 51) 74. Trong sự sống xã hội, tất cả mọi quyền được ban cho một nhân vị do thiên nhiên, thì tạo nên một bổn phận nơi những kẻ khác, bổn phận nhìn nhận và tôn trọng quyền này. Tất cả mọi quyền cốt yếu của con người thật sự vay mượn quyền lực sai khiến của nó từ luật thiên nhiên, luật thiên nhiên này ban cho quyền đó và ra luật buộc tương ứng. Những kẻ muốn đòi hỏi quyền của mình, mà lại quên đi bổn phận mình hay chỉ chu toàn bổn phận cách bất toàn, thì liều mình phá đổ bằng một tay điều gì mình xây dựng bằng tay kia.(Pacem in Terris, n. 30) 75. Thật vậy, ngày nay phổ biến rộïng rãi ý niệm bình đẳng tự nhiên của mọi người. Cho nên, ít ra trên lý thyuết, người ta không còn nghe sự thanh minh cho những kỳ thị chủng tộc. Đó là phản chiếu một giai đoạn quan trọng trên con đường đưa tới một cộng đồng nhân loại, được thiết lập trên nền tảng những nguyên lý chúng tôi đã nhắc tới. Bây giờ, vừa khi con người ý thức được các quyền của mình, thì tất nhiên nẩy ra trong con người ý thức những trách nhiệm tương ứng: con người phải phát huy các quyền riêng của mình, vì, trước hết, đó là bao nhiêu phát biểu về phẩm giá của mình, và tất cả những kẻ khác có trách nhiệm công nhận và tôn trọng những quyền này. (Pacem in Terris, n. 44) 76. Tất cả mọi người, đều có một tâm linh và được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, nên có một bản tính và cùng một nguồn gốc ; hơn nữa vì được Chúa Kitô cứu chuộc nên họ đều được mời gọi như nhau và cùng hưởng chung một cùng đích nơi Thiên Chúa: càng ngày càng phải nhận thức sự bình đẳng căn bản giữa mọi người hơn. Dĩ nhiên mọi người không bằng nhau vì không có khả năng thể chất như nhau và những năng lực trí tuệ và tinh thần như nhau. Tuy nhiên phải vượt lên trên và loại bỏ mọi hình thức kỳ thị về những quyền lợi căn bản của con người, hoặc trong phạm vi xã hội hoặc trong phạm vi văn hoá, kỳ thị vì phái tính, chủng tộc, màu da, địa vị xã hội, ngôn ngữ hay tôn giáo, vì như vậy là trái với ý định của Thiên Chúa. Do đó thực đáng buồn khi những quyền lợi căn bản của nhân vị cho đến nay vẫn chưa được bảo đảm toàn vẹn ở mọi nơi. Thí dụ, người ta không nhìn nhận phụ nữ có quyền tự do chọn lựa người chồng hay quyền tự do chọn lựa bậc sống, hoặc quyền được giáo dục và có văn hoá như nam giới. Hơn nữa, dù có những khác biệt chính đáng giữa con người với nhau, tuy nhiên nhân phẩm như nhau của mọi người cũng đòi hỏi người ta phải tiến tới mức sống nhân đạo hơn và xứng hợp với con người hơn. Thực vậy, những chênh lệch quá đáng về kinh tế và xã hội giữa những thành phần hay giữa những dân tộc trong cùng một gia đình nhân loại thực là những gương xấu và đi ngược với công bằng xã hội, lẽ phải, nhân phẩm và nền hoà bình xã hội cũng như quốc tế. Còn các tổ chức của con người hoặc tư hoặc công hãy nỗ lực phục vụ phẩm giá cũng như cứu cánh của con người, đồng thời hãy mạnh mẽ chống lại bất cứ hình thức nô lệ nào trên phương diện xã hội hay chính trị và bảo vệ những quyền lợi căn bản của con người trong bất cứ một chính thể nào. Hơn nữa, các tổ chức ấy còn phải dần dần phù hợp với những việc thiêng liêng là những việc cao cả hơn hết, dù đôi khi phải trải qua một thời gian khá lâu để đạt tới mục đích hằng mong mỏi đó. (Gaudium et Spes, n. 29) 77. Cùng với sự giải phóng chính đáng nối liền với việc rao giảng tin mừng, chỉ muốn thực hiện những cấu trúc bảo tồn quyền tự do con người, người ta cần thiết phải bảo đảm tất cả những quyền cơ bản của con người, trong những quyền đó quyền tự do tôn giáo chiếm chỗ quan trọng hàng đầu. (Evangelii Nuntiandi, n. 39 V. Tự do Tôn giáo 78. Thánh Công Đồng Vaticanô này tuyên bố con người có quyền tự do tôn giáo. Quyền tự do này hệ tại con người không bị lệ thuộc vào áp lực của cá nhân, đoàn thể xã hội hay của bât cứ quyền bính trần gian nào khác. Với ý nghĩa đó, trong lãnh vực tôn giáo, không ai bị ép buộc hành động trái lương tâm, cũng không ai bị ngăn cấm hành động theo lương tâm, dù cho đó là hành động riêng tư hay công khai, một mình hay cùng với người khác, trong những giới hạn chính đáng. (Dignitatis Humanae, n. 2) 79. Chắc chắn sự hạn chế quyền tự do tôn giáo của những nhân vị và những cộng đồng, không những là một kinh nghiệm đau buồn cho họ, nhưng nó xúc phạm trước hết chính phẩm giá con người, chưa nói tới tôn giáo mà những nhân vị và những cộng đồng này tuyên xưng hay khái niệm của họ về thế giới. Sự hạn chế quyền tự do tôn giáo và sự xúc phạm tôn giáo là trái nghịch với phẩm giá con người và những quyền khách quan của con người… không chút nghi ngờ, trong trường hợp này chúng ta đang đứng trước một bất công hoàn toàn tác động đến những gì thật sâu xa trong con người, những gì là đích thực nhân bản. (Redemptoris Hominis, n. 17) 80. Không một uy quyền nhân loại nào có quyền can thiệp trong lương tâm của bất cứ ai. Lương tâm là chứng nhân cho sự siêu việt của nhân vị, ngay cả trước mặt xã hội, và trong tư cách đó, lương tâm không thể bị xúc phạm. Tuy nhiên, lương tâm không phải là một tuyệt đối phải đặt trên chân lý và sai lạc ; và cũng vậy, bản tính nội tại của nó giả thiết một tương quan với chân lý khách quan, phổ quát và bình đẳng cho mọi người, mà mọi ngườo có thể và phải tìm kiếm. Trong tương quan này với chân lý khách quan, quyền tự do lương tâm gặp được sự biện minh của nó, tức là một điều kiện cần thiết để tìm chân lý xứng đáng với con người và là sự gắn bó với chân lý một khi người ta biết chân lý cách thích hợp. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1991, n. 1) 81. Cũng vậy nếu sứ vụ của chúng ta là loan báo những chân lý chắc chắn và một sự cứu rỗi cần thiết, thì sứ vụ ấy không thi hành bằng sự cưỡng ép bên ngoài, nhưng chỉ bằng những con đường hợp pháp của việc giáo dục nhân bản, của việc thuyết phục bên trong, của việc đàm thoại thông thường, sứ vụ ấy cung hiến ân huệ cứu rỗi của mình, luôn biết tôn trọng tự do nhân vị của những con người văn minh. (Ecclesiam suam, n. 75) 82. Trước hết, sự tự do tôn giáo là một đòi hỏi bất khả nhượng của mọi người, là một viên đá góc trong toà nhà các quyền nhân bản; cho nên, sự tự do tôn giáo là một nhân tố thiết yếu vì lợi ích của các nhân vị và của toàn thể xã hội, cũng như vì sự phát triển cá thể của mỗi người. Do đó mà đối với từng cá nhân và các cộng đồng, sự tự do tuyên xưng và thực hành tôn giáo mình là một yếu tố thiết yếu của việc sống chung hoà bình giữa những con người. Hoà bình, được xây dựng và củng cố trên tất cả mức độ sống chung, cơ bản dựa trên sự tự do và sự mở rộng lương tâm đón chân lý. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1988, Nhập đề) 83. Tất cả những vấn đề nhân linh được tranh cãi nhiều nhất và được giải quyết một cách khác biệt nhau, đều gắn liền với một vấn đề trọng yếu, là vấn đề tự do của con người. Chắn hẳn rằng
thời đại chúng ta đã đạt tới một cảm nhận hết sức mãnh liệt và bén nhạy về tự
do. "Thời nay, phẩm giá con người là đối tượng của một ý thức ngày càng
mãnh liệt", theo như Công Đồng đã nhận định trong tuyên ngôn Dignitatis
Humanae về tự do tôn giáo (Dignitatis Humanae, n. 1) Do đó mới có vấn đề đòi
lại cho con người quyền được "hành động dựa theo những lựa chọn riêng tư
của mình và trong tinh thần trách nhiệm tự do thật sự, không phải dưới sức ép
của một cưỡng bức, nhưng được huớng dẫn bởi ý thức về bổn phận của mình"
(Dignitatis Humanae, n. 1). Cách riêng, quyền tự do tôn giáo và tôn trọng lương
tâm trong hành trình tiến đến chân lý ngày càng được cảm nhận như là nền tảng
của các quyền lợi con người xét trong toàn thể (x. Redemtoris Hominis, n. 17
; Libertatis Conscientia, n. 19). (Veritatis Splendor, n. 31) |
|
|
"..Go
into whole world and proclaim the gospel to every creature(MK 16:15)" "copyright @ 2006" Dan Than Magazine,
P.O |