SƯU TẬP NHỮNG BẢN VĂN

Của Hội Đồng Giáo Hoàng

Cổ Võ Công Lý Và Hoà Bình

 

CHƯƠNG MỘT

BẢN CHẤT HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI

I. Giáo Hội là Mẹ và Thầy

1. Là người Mẹ và là nhà giáo dục tất cả các dân tộc, Giáo Hội phổ quát được Chúa Giêsu Kitô thiết lập để tất cả mọi người, qua các thời đại, gặp được trong lòng và trong tình yêu của Giáo Hội, sự viên mãn của một đời sống cao hơn và sự bảo đảm cho phần rỗi mình. Đấng Sáng Tạo thánh đã trao cho Giáo Hội này, "cột trụ và nền tảng chân lý" (x. 1 Tm 3, 15) một nhiệm vụ kép: sinh ra con cái, giáo dục và hướng dẫn chúng, bằng một sự quan phòng mẫu tử chăm lo sự sống của từng cá nhân và của các dân tộc, mà Giáo Hội đã luôn luôn tôn trọng và bảo vệ kỹ lưởng phẩm giá.  (Mater et Magistra, n. 1)

2. Chắc chắn, một vấn đề nghiêm trọng như thế còn đòi hỏi những tác nhân khác góp phần hoạt động và cố gắng của mình. Chúng tôi muốn nói tới những vị Nguyên thủ Quốc gia, những ông chủ và những người giàu có, chính những thợ thuyền nữa, mà vận mạng của họ có liên quan ở đây. Nhưng điều Chúng tôi khẳng định không nghi ngại, đó là sự vô ích trong hành động của họ bên ngoài hành động của Giáo Hội. Thật vậy, chính Giáo Hội múc lấy trong Tin Mừng những học thuyết có khả năng, hoăïc chấm dứt xung đột, hoặc ít ra thoa dịu nó bằng cách cất đi tất cả những gì ác liệt và chua cay; Giáo Hội không bằng lòng với việc soi sáng lòng trí bằng những huấn giáo của mình, nhưng còn sau đó điều chỉnh sự sống và những phong tục của mỗi người ; Giáo Hội, nhờ một số đông các cơ chế hữu ích phi thường, có ý cải thiện số phận giai cấp nghèo; Giáo Hội muốn và ao ước rằng tất cả các giai cấp góp chung những ánh sáng và những sức lực của mình, ngõ hầu mang đến cho vấn đề thợ thuyền một giải pháp tốt nhất; sau hết Giáo Hội cho rằng những luật pháp và công quyền phải, với chừng mực và khôn ngoan là điều chắc, góp phần hợp tác của mình cho giải pháp này.  (Rerum Novarum, n. 16)

3. Quả vậy, Kitô giáo, liên kết đất với trời, vì nhìn con người trong thực tại cụ thể của nó, tinh thần và vật chất, lý trí và ý chí, và kêu mời con người nâng cao tư tưởng mình từ những điều kiện hay thay đổi của cuộc sống địa cầu lên tới những đỉnh sự sống đời đời, trong một sự viên mãn hạnh phúc và bình an vô tận.  (Mater et Magistra, n. 2)

4. Như vậy không lạ gì việc Giáo Hội Công Giáo, noi gương và theo lệnh Chúa Kitô, trong suốt hai ngàn năm, từ lúc thiết lập chức phó tế xưa cho tới ngày nay, đã luôn luôn nêu cao ngọn đuốc bác ái, qua những điều răn mà cũng qua những gương lành vô kể của mình; đức bác ái này, bằng cách điều hoà những giới luật yêu nhau với việc thực hành những giới lệnh đó, thực hiện cách kỳ diệu lệnh truyền của hồng ân kép này, tóm tắt học thuyết và hành động xã hội của Giáo Hội.  (Mater et Magistra, n. 6)

5. Như vậy, dưới ánh sáng học thuyết Công đồng Vatican II, Giáo Hội xuất hiện trước mắt chúng ta như có trách nhiệm về phương diện xã hội đối với chân lý thần linh. Chúng ta phải cảm động sâu xa khi nghe chính Chúa Giêsu công bố: "Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy" (Ga 14, 24)… Do đó điều cần là Giáo Hội, khi tuyên xưng và dạy đức tin, phải bám chắc vào chân lý thần linh (Dei Verbum, nn. 5, 10, 21) và sự kiện này phải được diễn tả bằng một thái độ sống "phục tùng phù hợp với lý trí" (x. Dei Filius, chap. 3)  (Redemptoris hominis. n. 19)

6. Cách riêng, như Công đồng khẳng định, "nhiệm vụ chú giải chính thức Lời Chúa, đã được viết ra hay lưu truyền, chỉ được uỷ thác cho Huấn Quyền sống động của Giáo Hội, và Giáo Hội thi hành quyền đó nhân danh Chúa Giêsu Kitô (Dei Verbum, n. 10). Như vậy Giáo Hội, trong cuộc sống và trong giáo huấn của mình, được trình bày như cột trụ và điểm tựa của chân lý (1 Tm 3, 15), và cũng của chân lý trong hành động luân lý. Thật vậy, "Giáo Hội có quyền loan báo luôn luôn và khắp nơi các nguyên tắc luân lý kể cả những nguyên tắc về trật tự xã hội, và quyền phán đoán về bất cứ thực tại nhân sinh nào, trong mức độ các quyền căn bản của con người hay việc cứu độ, các linh hồn đòi hỏi" (Giáo luật, 747, n. 2)

Chính trên những vấn đề mà ngày nay là đối tượng của cuộc bàn cãøi luân lý và chung quanh những vấn đề đó lại phát triển những xu hướng mới và những chủ thuyết mới, Huấn Quyền, trung thành với Chúa Giêsu Kitô và tiếp tục Truyền Thống của Giáo Hội, cho mình có bổn phận khẩn cấp phải đề xướng sự nhận thức và huấn giáo của mình, ngõ hầu giúp con người trên đướng đi tới chân lý và tự do.  (Veritatis splendor, n. 27)

II. Sứ vụ của Giáo Hội

7. Phát sinh từ tình yêu của Chúa Cha muôn đời, do Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ thiết lập trong thời gian, được qui tụ trong Chúa Thánh Thần (x. Ep 1, 3; 5, 6-13-14, 23), Giáo Hội theo đuổi một mục đích cứu rỗi và cánh chung. Mục đích này chỉ có thể thành tựu trọn vẹn trong thời kỳ sẽ đến. Nhưng, ngay bây giờ Giáo Hội đã hiện diện trên mặt đất này rồi, được qui tụ gồm những con người, là phần tử của xã hội trầøn gian; họ được kêu gọi để hợp thành gia đình các con cái Thiên Chúa ngay trong lịch sử nhân loại, ngõ hầu tăng trưởng luôn mãi cho tới khi Chúa đến. Hiệp nhất nhằm đạt những của cải thiêng liêng, trở nên giàu có vì những của cải ấy, gia đình này như một xã hội được thiết lập qui củ trên trần gian, do Chúa Kitô, được trang bị các phương thế thích hợp để kếùt hiệp thành một xã hội hữu hình" (GS. 40). Như thế, là "một đoàn thể hữu hình và là cộng đoàn thiêng liêng", Giáo Hội đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng nhau chia sẻ một số phận trần thế với thế giới; Giáo Hội như men và hồn của xã hội loài người, sẽ được đổi mới trong Chúa Kitô và biến thành gia đình của Thiên Chúa.   (Gaudium et Spes. n. 40)

8. Việc dạy và phổ biến học thuyết xã hội là thành phần của sứ mệnh truyền giáo của Giáo Hội. Và, vì đây là một học thuyết có mục đích hướng dẫn cách sống con người, nên nó đưa tới hệ quả là mỗi người tùy theo vai trò, ơn gọi và địa vị mình, mà "cam kết cổ võ công lý."

Việc hoàn thành thừa tác vụ rao giảng Tin Mừng trong lãnh vực xã hội, thừa tác vụ này là thành phần của nhiệm vụ ngôn sứ của Giáo Hội, cũng gồm sự tố giác những sự dữ và những bất công. Nhưng nên nhấn mạnh rằng việc rao giảng luôn quan trọng hơn việc tố giác, và việc tố giác không thể bỏ qua việc rao giảng, vì sự rao giảng là nền tảng thật sự và là sức lực của động cơ cao nhất.  (Sollicitudo Rei Socialis, n. 41)

9. Chúng ta tuyên xưng rằng Nước Chúa đã khởi sự ở dưới thế này trong Giáo Hội Chúa Kitô, không thuộc về thế gian này, mà bộ mặt đang qua đi, và sức phát triển riêng của nó, không thể lẫn lộn với sự tiến triển của văn minh, của khoa học hay của kỹ thuật loài người, nhưng hệ tại sự hiểu biết luôn cách sâu xa hơn những kho tàng không dò thấu của Chúa Kitô, hệ tại đáp ứng luôn nồng nhiệt hơn tình yêu của Chúa, hệ tại ban phát luôn rộng rãi hơn ân sủng và sự thánh thiện giữa những con người. Nhưng cũng chính tình yêu này thúc đẩy Giáo Hội luôn lo lắng đến lợi ích thật thế tục của con người. Tuy không ngừng nhắc nhở con cái mình rằng họ không có chỗ ở vĩnh viễn ở đời này, Giáo Hội cũng thúc ép họ góp phần, mỗi người tùy theo ơn gọi và phương tiện riêng, lo cho lợi ích thành quốc trần thế của mình, cổ võ công lý, hoà bình và tình huynh đệ giữa con người, quãng đại giúp đỡ anh em mình, nhất là những kẻ nghèo và những kẻ vô phúc nhất (Paul VI, Profession de foi du peuple de Dieu, n. 27).  (Libertatis Nunctius, Conclusion)

10. Giáo Hội, về phần mình, được trao phó nhiệm vụ tỏ bày mầu nhiệm của Thiên Chúa, Đấng làm cùng đích của con người, Giáo Hội cũng đồng thời tỏ cho con người biết ý nghĩa của cuộc đời con người, tức là sự thật thâm sâu về con người. Giáo Hội biết chắc rằng chỉ có Thiên Chúa mà Giáo Hội phụng sự mới đáp ứng được các ước vọng sâu xa nhất của lòng người. Lòng người không bao giờ thoả mãn với những của ăn trần thế.  (Gaudium et Spes, n. 41)

11. Vì thế, với ân huệ của Đấng Sáng Lập, và trong khi trung thành tuân giữ các giới răn bác ái, khiêm nhường và từ bỏ, Giáo Hội đã lãnh nhận sứ mạng rao truyền và thiết lập Nước Chúa Kitô và Nước Thiên Chúa trong mọi dân tộc; Giáo Hội là mầm mống và khai nguyên Nước ấy trên trần gian. Đang lúc từ từ phát triển, Giáo Hội vẫn khát mong Nước ấy hoàn tất và thiết tha hy vọng kết hợp với Vua mình trong vinh quang.  (Lumen Gentium, n. 5).

12. Giáo Hội, người ta biết, không tách riêng ra khỏi thế giới, Giáo Hội sống trong thế giới. Những phần tử Giáo Hội chịu ảnh hưởng thế giới; họ hô hấp nền văn hoá thế giới, bằng cách chấp nhận những luật pháp và dung nạp những phong tục thế giới. Việc tiếp xúc thân tình này với xã hội trầøn thế, tạo ra cho Giáo Hội một hoàn cảnh luôn luôn đầy dẫy vấn đề, ngày nay các vấn đề đó là gay gắt đặc biệt.

Một mặt đời sống Kitô giáo, mà Giáo Hội bảo toàn và phát triển, phải luôn luôn và can đảm tự giữ mình khỏi mọi sự chệch hướng, phàm tục hay chết nghẹt; đời sống đó phải tránh được sự lây lan của sự lầm lạc và sự dữ. Nhưng mặt khác đời sống Kitô giáo không nên đơn thuần bằng lòng với những cách thức suy nghĩ và hành động do môi trường thế tục trình bày và áp đặt, bao lâu những cách thức đó phù hợp với những mệnh lệnh cốt yếu của chương trình tôn giáo và luân lý của nó; hơn nữa, Giáo Hội phải ra sức tiếp nối chúng, thanh tẩy chúng, nâng cao chúng, phấn khởi chúng và thánh hoá chúng.  (Ecclesiam suam, n. 42)

13. Giáo Hội cung hiến cho con người Tin Mừng, tài liệu ngôn sứ đáp ứng với những đòi hỏi và những ước vọng của con tim con người; Đó luôn luôn là "Tin Mừng". Giáo Hội không thể tự chước chuẩn việc rao giảng rằng Chúa Giêsu đã đến mặc khải gương mặt của Thiên Chúa và nhờ Thánh Giá và sự Phục Sinh, đem lại phần rỗi cho tất cả mọi người.  (Redemptoris missio, n. 11)

14. Tất cả những gì là nhân bản đều liên hệ đến chúng ta. Chúng ta có chung với tất cả nhân loại bản tính, nghĩa là sự sốùng, vói tất cả các ân huệ của nó, với tất cả mọi vấn đề của nó. Chúng ta chấp nhận chia sẻ tính phổ quát đầu tiên này; chúng ta hoàn toàn sẵn sàng tiếp nhận những thỉnh nguyện sâu xa thuộc các nhu cầu cơ bản của con người, tán thành những khẳng định mới mẻ và đôi khi cao thượng thuộc thiên tài con người. Và chúng ta có những chân lý luân lý, quan yếu, phải đưa ra ánh sáng và củng cố trong lương tâm con người, bởi vì chúng sinh ích cho mọi người. Nơi nào con người cho mình có bổn phận tự hiểu lấy mình và hiểu thế giới, thì chúng ta có thể truyền thông với con người.  (Ecclesiam suam, n. 97)

III. Sứ điệp xã hội của Giáo Hội

15. Sự quan tâm tích cực Giáo Hội dành cho vấn đề xã hội, nghĩa là cho điều có mục đích phát triển đích thực con người và xã hội, do bẩm tính tôn trọng và thăng tiến con người trong tất cả những chiều kích của nó, sự quan tâm đó luôn được tỏ bày bằng nhiều cách rất khác biệt. Một trong những cách ưu tiên can thiệp trong những thời gian sau này là Huấn Quyền của các Đức Giáo Hoàng, các ngài thường bàn luận vấn đề bằng cách qui chiếu về Thông Điệp Rerum Novarum của Đức Lêô XIII, thỉnh thoảng làm trùng hợp niên biểu phát hành những các tài liệu xã hội khác nhau với những ngày kỷ niệm của Thông Điệp đầu tiên này. Các Đức Giáo Hoàng, qua những lần can thiệp này, không bỏ qua việc cũng nêu cao các phương diện mới mẻ của học thuyết xã hội Giáo Hội. Như vậy, khởi từ phần đóng góp danh tiếng của Đức Lêô XIII, được phong phú hoá bởi những đóng góp liên tiếp của Huấn Quyền, được cấu tạo nên một phần chính yếu của học thuyết đã được hợp thời, nối tiếp nhau lần hồi khi Giáo Hội giải thích các biến cố trong diễn tiến của chúng, theo giòng lịch sử dưới ánh sáng của toàn bộ Lời được Chúa Giêsu Kitô mặc khải (Dei Verbum, n. 4) vàø với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần (x. Ga 14, 16. 26 ; 16, 13- 15). Bằng cách này Giáo Hội muốn hướng dẫn con người biết đáp ứng, khi dựa vào sự suy luận lý trí và sự đóng góp của các khoa học nhân bản, với ơn gọi của họ làm những nhà xây dựng trách nhiệm về xã hội trần thế.  (Sollicitudo Rei Socialis, n. 1)

16. Trong những xáùo trộn và những bất trắc thời giờ hiện tại, Giáo Hội có một sứ điệp đặc biệt phải loan báo, một nâng đỡ phải hiến cho con người trong những khi họ cố gắng nắm bắt và hướng dẫn tương lai của họ. Từ khi Rerum Novarum tố giác cách dữ dội và với giọng cấp bách, gương xấu do điều kiện lao động trong xã hội kỹ nghệ đang phát sinh, sự tiến hoá lịch sử, đã giúp nhận thức, như Quadragesimo Anno và Mater et Magistra chứng minh, có nhiều chiều kích khác và nhiều áp dụng khác thuộc công bình xã hội. Công Đồng mới đây, về phần mình, đã ra sức khai thông chúng, cách riêng trong Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes. Chính chúng tôi đã kéo dài những hướng dẫn này qua thông điệp chúng tôi Populorum progressio: chúng tôi đã nói "Ngày nay vấn đề mà mỗi người phải nhận thức là vấn đề xã hội đã trở nên quốc tế" (PP, n. 3). Một sự nhận thức mới về những đòi hỏi của sứ điệp Tin Mừng làm cho Giáo Hội thấy trách nhiệm phải phục vụ con người để giúp họ hiểu hết tất cả những chiều kích của vấn đề trầm trọng này, và để thuyết phục họ về sự cấp bách của một hành động liên đới trong khúc quanh này của lịch sử nhân loại".  (Octogesima Adveniente, n. 5)

17. "Mặc khải Kitô giáo đưa đến sự hiểu biết sâu xa hơn về những luật lệ của đời sống xã hội" (GS, n. 23). Qua Tin Mừng, Hội Thánh nhận được mặc khải trọn vẹn chân lý về con người. Khi chu toàn sứ vụ loan báo Tin Mừng, Hội Thánh nhân danh Đức Kitô, xác nhận cho con người biết phẩm giá riêng và ơn gọi hiệp thông của con người. Hội Thánh dạy cho con người biết các yêu sách của công lý và hoà bình, hợp với ý định khôn ngoan của Thiên Chúa.  (C.E.C, n. 2419)

18. Học thuyết xã hội của Giáo Hội, đề nghị một tổng thể những nguyên lý để suy tư, những tiêu chuẩn để phán đoán và những chỉ thị để hành động, trước tiên nhắm tới những thành viên của Giáo Hội. Điều thiết yếu là người tín hữu dấn thân trong việc thăng tiến nhân loại, phải có một sự hiểu biết vững chắc toàn bộ (corps) quí báu này của huấn giáo và coi nó như là một phần nguyên vẹn của sứ mạng rao giảng Tin Mừng của mình … Những Kitô hữu có trách nhiệm trong Giáo Hội và trong xã hội, cách riêng những giáo dân nam và nữ đang nắm trách nhiệm trong đời sống công cộng, cần được huấn luyện vững chắc về huấn giáo này, để họ có thể tác động và ban sức sống cho xã hội dân sự và các cơ cấu của nó bằng chất men Tin Mừng.  (Ecclesia in Asia, n. 32)

19. Việc đào tạo giáo lý cho các tín hữu, ngày càng biểu lộ khẩn cấp ngày nay, không những do động lực tự nhiên phải đào sâu đức tin, nhưng do nhu cầu biện giải về niềm hy vọng của họ trước mặt thế giới và trước những vấn đề nghiêm trọng và phức tạp. Do đó phát sinh sự cần thiết tuyệt đối về một hành động có hệ thống giáo lý, xứng hợp với tuổi tác và những hoàn cảnh khác biệt của đời sống, và về sự khuyến khích Kitô giáo nhất quyết hơn trong lãnh vực văn hoá, ngõ hầu đáp ứng với các vấn đề vĩnh cửu và các vấn đề mới mẻ làm rung chuyển con người và xã hội hôm nay.

Điều hoàn toàn cần thiết, cách riêng, là các giáo dân, nhất là những anh chị dấn thân nhiều cách trong lãnh vực xã hội hay chính trị, phải hiểu biết chính xác hơn học thuyết xã hội của Giáo Hội, như các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã xin nhiều phen trong những bài tham luận của các ngài.  (Christifideles Laici, n. 60)

20. Trung thành với Huấn Giáo và gương sáng của Vị Sáng Lập thần linh của mình, Đấng đã loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo khó như là dấu ấn sứ vụ của Người (Lc 7, 22), Giáo Hội không bao giờ chểnh mãng việc khuyến khích nâng cao nhân bản các dân tộc mà Giáo Hội đem đến cho niềm tin vào Chúa Kitô.  (Populorum Progressio, n. 12)

21. Giáo Hội chia sẻ với con người thời đại chúng ta, lòng ước muốn nồng nhiệt và sâu xa sống một đời sống đúng đắn về mọi phương diện, và Giáo Hội cũng không bỏ qua việc suy nghĩ tới các phương diện khác biệt của đức công bình, như đời sống con người và xã hội đòi hỏi phải có. Sự phát triển học thuyết xã hội công giáo trong thế kỷ qua khẳng định rõ điều này. Trong vết chân của giáo huấn này, cũng phải kể sự giáo dục và đào tạo lương tâm con người theo tinh thần công bình, cũng như những sáng kiến riêng nẩy nở trong tinh thần này, cách riêng trong khung cảnh truyền giáo của người giáo dân.  (Dives in Misericordia, n. 12)

22. Nếu, như chúng ta đã nói, Giáo Hội thực hiện ý muốn của Chúa về phương diện này, Giáo Hội sẽ rút được cho mình một nghị lực to lớn và hơn nữa còn cảm thấy cần trút ra nghị lực này để phục vụ mọi người. Giáo Hội sẽ cảm ứng chính xác về một sứ mệnh nhận lãnh từ Thiên Chúa, về một sứ điệp phải loan truyền khắp nơi. Chính nơi đây là chỗ dựa của nguồn mạch nhiệm vụ Tin Mừng chúng ta, của uỷ nhiệm chúng ta phải dạy dỗ muôn dân và của cố gắng tông đồ chúng ta để theo đuổi sự cứu rỗi vĩnh viễn cho tất cả mọi người.  (Ecclesiam suam, n. 64).

23. Chắc chắn, không có mẫu duy nhất để tổ chức quyền tự do nhân bản về mặt chính trị và kinh tế, bởi vì những nền văn hoá khác biệt và sự khác biệt những kinh nghiệm lịch sử là nguồn gốc những hình thức khác nhau của những cơ chế trong một xã hội tự do và trách nhiệm.  (Diễn văn tại kỳ hợp khoáng đại Liên hiệp quốc, 1995, n. 3)

24. Vả lại, học thuyết xã hội có một chiều kích quan trọng liên kỷ luật. Muôn nhập thể tốt hơn chân lý duy nhất liên quan đến con người vào trong những bối cảnh xã hội, kinh tế và chính trị khác nhau và luôn thay đổi, thì chân lý này phải chấp nhận đối thoại với những kỷ luật khác biệt chăm nom con người, chân lý này đồng hoá những đóng góp của các kỷ luật đó và giúp chúng hướng về, trong một viễn tượng rộng lớn hơn, phục vụ con người, được biết và được yêu trong sự viên mãn ơn gọi của họ. Bên cạnh chiều kích liên kỷ luật, cũng phải lưu ý tới chiều kích thực hành và, nói được, kinh nghiệm của học thuyết này. Học thuyết này nằm tại chỗ gặp gỡ giữa sự sống và lương tâm Kitô hữu với những hoàn cảnh thế giới, và học thuyết đó biểu lộ trong những cố gắng mà những cá nhân, gia đình, những tác nhân văn hoá và xã hội, những nhà chính trị và những nhân viên Nhà nước hoàn thành, ngõ hầu cho nó hình thức và kiểu áp dụng trong lịch sử.  (Centesimus Annus, n. 59)

IV. Phạm vi huấn giáo xã hội của Giáo Hội

25. Giáo Hội không có mẫu để đề xướng. Những mẫu chân xác và hiệu nghiệm thật sự, chỉ có thể nhận thức được trong khuôn khổ những hoàn cảnh lịch sử khác biệt, nhờ sự cố gắng của tất cả những kẻ trách nhiệm giáp mặt với những vấn đề cụ thể dưới tất cả những khía cạnh xã hội, kinh tế, chính trị và văn hoá chồng chất lên nhau (x. GS, n. 36 ; Octogesima Adveniens, nn. 2-5). Khi đối diện với những trọng trách này, Giáo Hội trình bày, như phương hướng lý trí và cần thiết, học thuyết xã hội của mình, học thuyết như đã nói công nhận đặc điểm tích cực của thị trườøng và doanh nghiệp, nhưng đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết hướng chúng về thiện ích chung.  (Centesimus Annus, n. 43)

26. Học thuyết xã hội của Hội Thánh là tập hợp các lời dạy của Hội Thánh về các biến cố lịch sử, dưới ánh sáng của toàn bộ Lời Chúa Kitô Giêsu mạc khải với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. (x. SRS, n. 1). Những người thiện chí dễ dàng chấp nhận giáo thuyết này khi chúng được các Kitô hữu thể hiện trong đời sống.  (CEC, n. 2422)

27. Tới giai đoạn áp dụng cụ thể các nguyên tắc, có thể nẩy ra những khác biệt quan điểm, dầu giữa những người công giáo ngay lành và chân thật. Khi nào sự đó xảy ra, mong sao đừng bao giờ thiếu sự quí mến nhau, sự kính trọng nhau và thiếu thiện chí, thiện chí tìm kiếm những điểm tiếp xúc vì một hành động thuận lợi và hiệu nghiệm; mong sao người ta không phí sức trong những cuộc bàn cải bất tận; và lấy cớ làm tốt hơn, mong sao người ta đừng coi thường thiện ích có thể và phải thực hiện.  (Mater et magistra, n. 238)

28. Giáo Hội không đề nghị triết học riêng của mình cũng không thần thánh hoá một triết học nào đặc biệt mà gây thiệt hại cho những cái khác. Lý do sâu xa của việc giữ gìn ý tứ này là chính lúc triết học đi vào liên hệ với thần học, nó cũng phải theo những cách thức và những luật lệ của nó; bằng không sẽ không có bảo đảm nó sẽ hướng về sự thật và nhằm tới sự thật nhờ một phương pháp có thể thẩm tra hợp lý. Một nền triết học nào không diễn tiến dưới ánh sáng của lý trí theo những nguyên tắc riêng và những phương pháp riêng của nó, thì sẽ không giúp ích gì nhiều. Rốt cuộc, phải tìm kiếm nguồn gốc của sự tự trị triết học trong sự kiện này là lý trí, tự bản tính, hướng về sự thật và, hơn nữa lý trí tự kiếm ra những phương thế để đi tới đó. Một nền triết học ý thức "qui chế cấu tạo nên mình" không thể không tôn trọng những yêu sách và những điều hiển nhiên xứng hợp với chân lý mặc khải.  (Fides et Ratio, n, 49)

29. Học thuyết xã hội của Hội Thánh được phát triển vào thế kỷ XIX khi Tin Mừng tiếp xúc với xã hội kỹ nghệ tân tiến, với các cơ cấu mới để sản xuất các sản phẩm tiêu thụ, với khái niệm mới về xã hội, về quốc gia và quyền bính, với các hình thức mới của lao động và quyền sở hữu. Sự phát triển học thuyết kinh tế và xã hội của Hội Thánh, xác nhận giá trị vững bền của quyền giáo huấn Hội Thánh, cũng như cho thấy ý nghĩa đích thực củûa Truyền Thống luôn luôn sống động và tích cực (x. CA, n. 3).  (CEC, n. 2421)

30. Học thuyết xã hội của Giáo Hội không phải là một "con đường thứ ba" giữa tư bản tự do chủ nghĩa và cộng sản mác xít chủ nghĩa, cũng không phải là một khả năng giữa những giải pháp được đánh dấu ít triệt để hơn: nó là một loại tự nó. Nó cũng không phải là một ý thức hệ, nhưng là một sự trình bày chính xác những kết quả của một sự suy nghĩ chăm chú về các thực tại phức tạp của kiếp sống con người trong xã hội và trong bối cảnh quốc tế, dưới ánh sáng đức tin và truyền thống giáo hội. Mục đích chính của học thuyết này là giải thích những thực tại đó, bằng cách suy xét sự phù hợp hay những dị biệt của chúng với những hướng dẫn của huấn giáo Tin Mừng về con người và về ơn gọi của con người vừa trần thế vừa siêu việt; học thuyết đó có mục đích hướng dẫn cách sống Kitô giáo. Do đó, học thuyết đó không thuộc lãnh vực ý thức hệ, nhưng thuộc lãnh vực thần học và cách riêng thần học luân lý.  (Sollicitudo Rei Socialis, n. 41)

31. Chắc chắn, Giáo Hội đã nhận lãnh sứ vụ dẫn đưa nhân loại tới hạnh phúc muôn đời, chớ không phải chỉ tới một nền thịnh vượng tạm bợ; và thậm chí "Giáo Hội không cho mình có quyền vô cớ xen vào việc điều khiển những sự trần tục" (Ubi Arcano Dei Consilio, n. 65). Nhưng bằng bất cứ giá nào Giáo Hội không thể từ bỏ trách nhiệm Chúa đã phó thác cho và trách nhiệm đó là một luật buộc Giáo Hội can thiệp, chắc không phải trong lãnh vực kỹ thuật vì đối với lãnh vực này Giáo Hội thiếu những phương tiện xứng hợp và chuyên môn, nhưng trong tất cả những gì liên quan tới luật luân lý. Trong những vấn đề này, thật vậy, sự nắm giữ chân lý từ Trên Cao phó thác chúng ta và sự chúng ta có trách nhiệm rất nặng nề là loan báo, giải thích và rao giảng, bất chấp tất cả, luật luân lý, những sự kiện đó cũng đặt trật tự xã hội và trật tự kinh tế dưới quyền bính tối cao của Chúng ta.  (Quadragesimo Anno, n. 41)

32. Học thuyết xã hội, ngày nay hơn hết, chăm lo cho con người với tư cách được sát nhập trong mạng lưới phức tạp của những tương quan giữa các xã hội tân thời. Những khoa học nhân bản và triết học giúp hiểu rõ rằng con người là trung tâm xã hộïi và giúp cho con người có điều kiện hiểu biết mình hơn với tư cách là một "sinh vật xã hội". Nhưng chỉ có đức tin mặc khải đầy đủ cho con người căn tính thật sự của mình, và đức tin chính xác là điểm khởi hành của học thuyết xã hội của Giáo Hội.  (Centesimus Annus, n. 54)

V. Việc Phúc Âm hoá và Huấn Giáo xã hội của Giáo Hội

33. Việc tân Phúc Âm hoá, mà thế giới hiện đại cần khẩn cấp và đã nhiều lần tôi nhấn mạnh đến, phải kể vào số những yếu tố chủ yếu việc rao truyền học thuyết xã hội của Giáo Hội, một học thuyết có khả năng, hôm nay cũng như dưới thời Đức Lêô XIII, chỉ rõ con đường di đúng để dáp ứng những thách đố lớn của thời hiện nay, trong một bối cảnh mất uy tín ngày càng lớn của các ý thức hệ. Cũng như ở thời buổi đó, phải lặp lại rằng không có giải pháp thật sự cho vấn đề xã hội" bên ngoài Tin Mừng và, đàng khác, "những sự mới" có thể gặp được trong Tin Mừng khoảng không gian của chân lý và phẩm chất luân lý xứng hợp.  (Centesimus Annus, n. 5)

34. Điều đáng nói ở đây -cũng như trong tất cả lãnh vực đời sống Kitô hữu- đó là sự tin tưởng đến từ đức tin, tức là từ sự biết chắc chính chúng ta không phải là những người chủ xướng sứ vụ, nhưng là chính Chúa Giêsu Kitô và Thần Khí Người. Chúng ta chỉ là những cộng tác viên và, khi đã làm tất cả những gì theo sức mình, thì hãy nói: "Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi" (Lc 17, 10).  (Redemptoris missio n. 36)

35. Bây giờ tôi muốn đề nghị một "sự đọc lại" Thông Điệp của Đức Lêô XIII, và kêu mời đưa cái nhìn "lại phía sau" trên chính bản văn của người, ngõ hầu tái khám phá vẻ phong phú của những nguyên tắc cơ bản được phát biểu ở đó để giải quyết vấn đề lao động. Nhưng tôi cũng kêu mời đưa một cái nhìn "hiện tại" trên những sự mới "bao vây chúng ta và chúng ta bị ngụp lặn trong đó, nói được như vậy, những sự mới này rất khác biệt", đánh dấu thập niên cuối của thế kỷ qua. Sau hết tôi kêu mời hướng cái nhìn về "tương lai", đang khi chúng ta đã thấy ngàn năm thứ ba thời đại Kitô giáo, một tương lai nặng sự lạ mà cũng nặng những lời hứa. Sự lạ và những lời hứa kêu đến óc tưởng tượng chúng ta và óc sáng tạo chúng ta, óc tưởng tượng và sáng tạo này cũng thúc giục chúng ta, trong tư cách môn đệ Chúa Kitô, người "Thầy duy nhất" (x. Mt 23, 8), nhận lấy trách nhiệm chỉ đường, loan báo chân lý và thông truyền sự sống làø chính mình Người (x. Ga 14, 6). Làm được như vậy, không những người ta tái khẳng định giá trị trường tồn của huấn giáo này, mà người ta còn bày tỏ ý nghĩa thật sự của Truyền Thống Gíáo Hội, luôn luôn sống và hoạt đông, xây dựng trên những nền tảng cha ông chúng ta đặt trên đức tin và cách riêng xây dựng trên điều các "Tông đồ đã truyền thông cho Giáo Hội" (St Irénée, Adversus Haereses, I, 10) nhân danh Chúa Giêsu Kitô :Người là nền tảng và "không ai có thể đặt nền móng nào khác" (x. 1 Cr 3, 11).  (Centesimus Annus, n. 3)

36. Việc trình bày sứ điệp Tin Mừng không phải là một sự đóng góp tùy ý: đó là bổn phận thuộc về Giáo Hội, do uỷ nhiệm của Chúa Giêsu, ngõ hầu nhân loại có thể tin và được cứu rỗi. Vâng, sứ điệp này là cần thiết. Nó là duy nhất. Nó không thể bị thay thế.  (Evangelii Nuntiandi, n. 5)

37. Chúng ta được sai đi: phục vụ sự sống đối với chúng ta không phải là một lý do kiêu căng, nhưng là một bổn phận phát sinh từ việc ý thức mình là "dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người" (x. 1 Pr 2, 9). Luật tình yêu hướng dẫn chúng ta và nâng đỡ chúng ta trên đường đi, tình yêu mà Con Thiên Chúa làm người là nguồn mạch và kiểu mẫu, Người là Đấng đã chết để ban cho thế gian được sống" (x. Sách lễ Roma kinh chủ tế đọc trước lúc rước lễ)

Chúng ta được sai như một dân. Sự dấn thân phục vụ sự sống liên quan mỗi một người. Đó là một trách nhiệm thật "giáo hội", đòi hỏi hành động thống nhất và quảng đại của tất cả mọi thành phần và tất cả mọi cơ quan cộng đồng Kitô hữu. Nhưng, bổn phận chung không loại trừ và không giảm thiểu trách nhiệm riêng cá nhân, bởi vì với từng người Chúa gởi đến mệnh lệnh này là "làm người thân cận của mọi người :" Ông hãy đi và cũng hãy làm như vậy" (Lc 10, 37).  (Evangelium vitae, n. 79)

38. Tất cả cùng chung, chúng ta cảm thấy bổn phận loan báo Tin Mừng sự sống, cử hành Tin Mừng trong phụng vụ và trong tất cả cuộc sống, phục vụ Tin Mừng bằng những sáng kiến và những cơ chế khác biệt nhau với mục đích nâng đỡ và cổ võ Tin Mừng.  (Evangelium vitae, n. 79)

 

(Mục lục) (Ch. 2)(Ch. 3)

 

"..Go into whole world and proclaim the gospel to every creature(MK 16:15)"
For question or comments please write to Dan Than magazine

"copyright @ 2006"

Dan Than Magazine, P.O Box 5474 Katy, Texas 77491-5474
For questions about this site contact our Webmaster