Phiếm Luận

 

CHỮ LÌ

 

Hai Chùm Ruột

 

T huở ấu thơ, nhiều lần Hai tui bị mẹ mắng: “Sao con lì quá vậy? Mẹ dạy con hoài mà con không nghe?” Tui tin chắc mọi người chúng ta đều trải qua giai đoạn lì... dễ thương này. Đây là giai đoạn lì không cố ý, sớm muộn gì cũng vượt qua với thời gian năm tháng, lớn khôn và hiểu biết.

Nhỏ còn thơ dại mới lì

Lớn rồi đi học, học thì phải khôn.

Tui chỉ dám nói trường hợp chính mình. Mỗi lần mẹ chỉ dạy, thật tình tui cố ý lắng nghe, dốc lòng chừa cải, tui hứa với mẹ như vậy, để không bị phạt đánh đòn. Nhưng khi gặp bạn bè cùng tuổi, xáp lại chơi là quên hết, đâu vào đó. Lỗi phạm tái diễn nhiều lần nên mẹ mới mắng là... lì. Phần khác, có lẽ lúc còn nhỏ, mọi hệ thống trong cơ thể đều thông thoát, chưa bị cholesterol làm tắt nghẽn, nhất là... xa lộ nối liền hai lỗ tai, nên vừa nghe tai này thì chỉ một lát sau đã thoát ra tai khác. Người lớn tuổi, sống lâu, chất chứa, lưu giữ nhiều thứ, cả tốt lẫn xấu, nên sanh chứng “nặng tai,” thỉnh thoảng phải đi “ráy tai” để khai thông lỗ nhĩ. Trẻ nít đâu cần.

Từ lúc lên 14 tuổi, tui không còn bị mẹ mắng là “lì” nữa. Có lẽ vì tui đã có trí khôn, biết nhận ra điều đúng, điều sai, chỉ cần mẹ căn dặn, chỉ dạy một hai lần là nhớ và làm theo. Nhưng cũng có thể mẹ tui nhìn gương đứa bạn hàng xóm mà không dám nhiếc khéo tui là “lì” nữa. Số là hôm đó, thằng bạn hàng xóm, lớn hơn tui hai tuổi, nổi tiếng nghịch và lì nhất trong bọn, bị mẹ nó mắng là “ đồ lì lợm ,” dạy hoài không được, nói hoài không nghe. Ba ngày sau, hàng xóm láng giềng, bạn bè không ai thấy nó đâu cả. Sau đó vài tháng, có người bắn tin là nó giận mẹ nên bỏ nhà, thoát ly theo mấy ổng ở trỏng, làm cách mạng. Từ đó tui không nghe tin tức gì về nó nữa. Vậy là nó thuộc loại lì hạng nặng, vì lì mà bị mẹ mắng, rồi vì lì mà bỏ nhà đi hoang. No mất ngon, lì mất khôn. Người lì thì tự ái cao lắm, không bao giờ nhận lỗi lầm của mình.

Sau này lớn lên có vợ, có con, thỉnh thoảng tui thấy mẹ nựng, mắng thằng cháu nội đích tôn của mình, “nó lì giống thằng tía nó,” thì tui hiểu mẹ tui nhớ cái lì của tui lúc còn bé và mắng yêu đứa cháu mình. Vậy tánh lì có thể cha truyền con nối như trường hợp của tía con tui. Đối với mẹ, cái lì của tui thật dễ thương, khiến mẹ nhớ hoài vì tui chưa đạt tới mức “ chai da lì đòn .” Dù vậy, mẹ cũng chỉ dám khoe cái lì của tui với anh chị em, con cháu trong nhà. Điều đó khiến tui nghĩ lì không phải là cái gì tốt lành để đem khoe với người ngoài. Xấu che, tốt khoe, truyền thống bốn ngàn năm văn hóa đã dạy, phải gìn giữ để không mất gốc!

Hồi xưa bên Tàu, ông Mạnh Tử được người ta tôn là ‘Thầy' nhờ câu nói “Nhơn chi sơ tánh bản thiện.” Dù vậy, ông vẫn còn thua thầy mình là ông Khổng Tử được thiên hạ cả nước Tàu tôn là vạn thế sư biểu, Thầy của mọi thế hệ. Ngày xưa, các cụ ta học chữ nghĩa thánh hiền, đọc sách, viết bài mà gặp hai chữ “Tử viết” (Thầy Khổng Tử hoặc Thầy Mạnh Tử đã nói...) thì chẳng bao giờ dám hoài nghi hay hỏi tại sao. Tử viết... là phải đúng, đừng thét mét mà mắc tội bất kính đối với Thầy. Hôm nay Hai tui cũng muốn bắt chước Thầy Mạnh Tử mà lạm bàn về chữ “ ” (nhưng không muốn ai gọi mình là “Thầy... Lì” cả).

Nhơn chi sơ tánh bổn... lì

Tánh tương cận, tập tương viễn

Cẩu bất giáo tánh nảy thiên.

Khi mới sinh ra, tánh trời cho ai cũng lì, mỗi người một cách, mười phân vẹn mười. Rồi với sự gần gũi, bắt chước bạn bè thân thuộc, sự dạy dỗ của mẹ cha, và khả năng học hỏi của mỗi người mà mức độ lì thay đổi, gia tăng hay tiết giảm với thời gian. Lì có nghĩa là trơ trơ ra đó, nắng mưa, gió bão không làm thay đổi, không hề hấn, ảnh hưởng gì đến mình; và từ đó trở thành trơ lì. Bà Huyện Thanh Quan tả cái lì thật chính xác qua câu thơ: Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt . Đã lì thì phải trơ như đá, chó sủa mặc chó, con đường đi ta vạch sẵn, đúng sai không cần biết, cứ thế mà tiếp tục, gió lay chẳng chuyển, cây rung chẳng sờn. Khi có chữ “lợm ” đi theo thì lì biến thành “ lì lợm ,” nghĩa là lì hạng nặng, lì quá đỗi lì, lì hết thuốc chữa, lì hàng sư tổ, lì quá cỡ thợ mộc, lì vượt chỉ tiêu, lì phá kỷ lục.... Gan lì là bất chấp mọi nguy hiểm, có gan đi tới cùng, bất kể kết quả xấu tốt. Người gan lì , vì vậy, thường thiệt thân. Người lầm lì là người ít nói, không bộc lộ tình cảm ra ngoài, lạnh lùng như nước đá. Nhưng lầm lầm lì lì là tình trạng nguy hiểm. Gặp người ở trong tình trạng này ta phải tránh xa để khỏi mang họa vào thân. Khi anh chồng đang lầm lầm lì lì thì chị vợ chớ nên nghe lời dạy khôn dạy khéo của dân nhậu mà ỏng a ỏng ẹo đến bên chồng vuốt ve, thỏ thẻ:

Chồng giận thì vợ làm lành

Miệng cười hớn hở rằng anh giận gì.

Thưa anh anh giận em chi

Muốn nhậu dồi chó em thì mua cho.

Lúc đó, cái món mộc tồn “sống ở trên đời không gì ngon hơn dồi chó” không còn hấp dẫn nữa. Hãy để ta yên! Khôn thì hồn ai nấy giữ, thân ai nấy lo, càng tránh xa càng tốt (người Việt ở Mỹ lâu ngày, có tinh thần hội nhập cao và óc hài hước thì nói as possible là ... càng có thể !) Phải chờ phu quân hạ hỏa trước đã!

Người cứ muốn ngồi một chỗ, bám trụ, không chịu rời đi, di chuyển, thay đổi thì gọi là ngồi lì . Giữ một chức vụ năm này tháng nọ, trào nào, thời nào cũng có mặt, cũng gọi là ngồi lì. Ngồi quá lâu thì xương bàn tọa, tức xương chỗ ngồi, trở thành chai cứng vì máu không thể chạy đến để tiếp dưỡng khí. Do đó mà có chữ chai lì. Đây là tật, không phải bịnh, nhưng nguy hiểm hơn vì không có thuốc chữa. Bác sĩ M.D., O.M.D., tây y hay đông y gì cũng chịu thua. May ra bác sĩ chỉnh xương, D.C., mới có thể bóp nắn, sửa lại xương bàn tọa hoặc bác sĩ châm cứu, D.A., dùng mũi kim đâm chích để kích thích, phục hồi hệ thống thần kinh đã chai cứng vì... ngồi lâu quá!

Có người nói ‘lì' là một đức tánh vì chứng tỏ mình có lập trường vững chắc. Nhưng người tu thân đến mức thượng thừa, biến được ‘lì' thành một đức tánh, thì ‘lì' không còn là ‘lì' nữa, mà trở thành kiên trì, nhẫn nhục, chịu đựng mọi thử thách để theo đuổi lý tưởng, mục tiêu của mình đến cùng.

Trong đời sống, lì lợm có khi mang lại sự thành công, kết quả đáng kể. Có người nhờ bản tính lì mà... làm nên sự nghiệp. Thấy mình lì quá, đối thủ đâm ra chán, không còn kiên nhẫn nữa, bỏ cuộc tranh tài nửa chừng. Thế là bất chiến tự nhiên thành. Trong chiến cuộc Việt Nam trước đây, rõ ràng tụi tư bản Mỹ không lì bằng con cháu cụ Hồ. Nội cái bàn dùng để họp mà bốn phe cộng sản, giải phóng và tư bản, quốc gia tranh cãi nhau hơn sáu tháng vẫn chưa ngã ngũ về hình dáng và kích thước vuông, tròn, méo, lớn, nhỏ, ai ngồi, ai đứng... Cái protocol của đế quốc tư bản nó khác xa với cái “thủ tục lì” của nhà nước xã hội chủ nghĩa ta. Sau khi giải quyết xong về hình thể cái bàn ngồi họp thì sự cố khác xảy ra. Mỗi lần đại diện phe cháu ngoan bác Hồ ở Bắc và trong Nam phát biểu, trưởng phái đoàn Hoa Kỳ phải lấy máy nghe ra khỏi tai để nhìn trời mùa đông Paris hiu quạnh... sướng hơn. Số là thay vì thảo luận ngay vào vấn đề, các đồng chí của Lê Đức Thọ – hiệu trưởng trường đại học Rừng Rú – đọc bài diễn văn soạn sẵn, tràng giang đại hải nói về thành tích chống ngoại xâm của tổ tiên và thành tích đánh Tây chống Mỹ của đảng ta, hết giờ này qua giờ khác. Lần nào cũng bổn cũ soạn lại, cù cưa, lai rai tới đâu hay tới đó. Thời giờ đối với tư bản Mỹ là tiền bạc, làm sớm nghỉ sớm, rồi đi làm overtime. Còn đối với con cháu cụ Hồ, càng ở lì càng sướng, tránh được lằn tên mũi đạn và đói kém ở nhà, lại có thời giờ đi ngắm cảnh, shopping. Người anh em ta ở phương Bắc nhờ lì mà chiếm trọn miền Nam ngon xơi, lì theo đúng sách vở Mác-Lê-Sít-Mao, lì theo định hướng xã hội chủ nghĩa: Tụi Mỹ nó quí mạng dân, chết vài trăm là nó sẽ la hoảng và bỏ cuộc. Còn sanh mạng dân ta thì không bằng con bò, con trâu, con cẩu... Cứ cù cưa, trơ lì dài dài thì trước sau phần thắng cũng về ta, dù phải đánh đến người Việt Nam cuối cùng (trừ thành viên bộ chánh trị, ủy viên trung ương đảng và gia đình, hẳn nhiên!). Thế là phe ta thành công, phe ta thắng trận, và mang cái nghèo đói, bần cùng “made in Hà Nội” vô Nam! Đế quốc Mỹ là con cọp giấy, vẻ thiếu tai nên không biết lì như đảng và nhà nước.

Sau canh bạc bịp với bài ba lá “Độc Lập, Tự Do và Hạnh Phúc,” đảng cộng sản Việt Nam củng cố bạo quyền thống trị bằng Điều Bốn Hiến Pháp 1992, dành độc quyền lãnh đạo, ngồi lì. Dân Nam gọi đó là... bốn lì , tức lì bốn đời, đời ông, đời cha, đời con và đời cháu. Tính từ đời cụ Hồ đến nay đã đủ bốn lì, nghĩa là hết hạn, expired rồi! Đảng cộng sản Liên Sô một thời làm mưa làm gió khắp nơi, cũng chỉ được bốn lì thôi. Trong xã hội chủ nghĩa ta, có chức vụ đòi hỏi phải mặt chai mày lì thì mới chu toàn được: người phát lời bộ ngoại giao . Mỗi khi có sự cố xấu liên quan đến đảng và nhà nước, dường như ngày nào cũng có, nhân vật này cứ theo sách lược bài bản viết sẵn của bộ chánh trị cộng sản mà làm như vầy... như vầy: đảng ta siêu việt, nhà nước ta sáng suốt, nhân dân ta anh hùng, kẻ thù nào cũng đánh bại, khó khăn nào cũng vượt qua..., không có đảng thì nhân dân ta bây giờ vẫn còn nô lệ thằng Tây, thằng Mỹ (không nghe nói ông Tàu!), nhân dân ta, đồng bào cả nước ta vẫn còn phải xách bị làm ăn mày xã hội chủ nghĩa... Rõ khổ, không làm thì mất việc, mất cơ hội hy sinh như bác Hồ, mất thẻ đảng viên, trở lại làm nghề cũ trước khi gia nhập đảng thì không làm nổi vì lao động là vinh quang bây giờ chỉ dành cho đồng bào ta mà thôi. Thôi cứ thế mà làm, ai nói gì mặc. Công ta bác phải biết, đảng phải ghi. Chức vụ này dành cho đấng mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao thì hợp lý hơn. Thế nhưng trong thời gian mấy năm qua, người phát lời gái Phan Thúy Thanh của bộ ngoại giao ta làm việc thật đắc lực và xem ra rất thích thú trong công việc này. Bây giờ người mất chức, Hai tui đề nghị người phát lời gái nên đi thẩm mỹ viện để lột da mặt và nhớ dùng kem dưỡng da mỗi ngày để da mặt trở nên mịn màng hơn. Nếu nhà nước ta có chế độ bồi thường tai nạn nghề nghiệp như tụi tư bản bóc lột, Phan Thúy Thanh nên đòi nhà nước trả phí tổn này.

Thời Đệ Nhị Cộng Hòa, miền Nam có ông tổng thống tên Nguyễn văn Thiệu. Sự nghiệp của ông Nguyễn Văn Thiệu thể hiện vỏn vẹn qua hai câu nói thời danh: “ đừng tin những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm ,” và “ làm chánh trị phải biết lì !” Số là năm 1972, ông hy sinh ứng cử làm tổng thống thêm một nhiệm kỳ bốn năm nữa. Để chắc ăn, ông và quần thần lương đống ở quốc hội đặt ra luật bầu cử gắt gao để không mấy người có đủ điều kiện ứng cử. Kết quả là đến ngày hết hạn nộp đơn ứng cử tổng thống, gà của phe chống đối trong đó có ông tướng ham chơi hoa lan – sau này được làm tổng thống ba ngày, thời gian đủ để ra lịnh quân sĩ đầu hàng địch – làm reo, rút đơn ứng cử. Rốt cuộc chỉ còn một liên danh ứng cử duy nhất là liên danh Dân Chủ của ông. Thiên hạ la ủm tỏi lên, phản đối, cáo buộc ông là độc tài, độc diễn. Ông cứ trơ như đá, vững như đồng, kiên định lập trường, không thay đổi. Không ai chịu ra thì tui ra một mình ên, tui tranh với bà xã tui! Làm chánh trị mà, phải biết lì chứ! Ai dám lì thì người đó thắng. Ông độc diễn tới phút cuối cùng, và hẳn nhiên ông đắc cử nhờ có tài lì! Nhưng rốt cuộc, cuối tháng tư năm 1975, ông phải dùng chước thứ 36 trong binh thư Tôn Tử, nhanh chân đào thoát sau khi hùng dũng tuyên bố trở về sống chết với quân đội, làm nhiệm vụ chống giặc của một quân nhân. Ông lì nhưng thân bại danh liệt, làm mất nước, vì ông lì chưa đúng mức, lì cương, lì ẩu, lì tự biên tự diễn theo lời xúi quẩy của đám quần thần ít khả năng, nhiều tham vọng. Những năm cuối đời, ông lại tái xuất hiện giang hồ, đi gom nhặt đám quần thần văn võ cũ còn trung thành để tạo một lực lượng sẵn sàng tranh đấu với cộng sản Việt Nam khi... thời thế (Hoa Kỳ?) cho phép. Cái lì của ông đã lên tận cùng, tột đỉnh và biến thành... lì lợm!

Vậy phàm ở đời, không phải lúc nào tánh lì cũng mang lại thành công, và dù có công thành danh toại thì cũng bị thiên hạ mắng là... đồ lì lợm! Nói cho cùng, lì là đặc tính của người có quyền thế ở Á Đông và các nước hậu tiến nói chung. Càng khó khăn, vất vả, vào sanh ra tử để đạt địa vị, quyền thế thì càng bám trụ, càng lì lợm. Hết chức hết quyền thì cốt nào hoàn cốt đó. Ông vua, tổng thống, chủ tịch nước nào... cũng muốn giữ chức vụ muôn năm, vạn vạn tuế, càng lâu càng... có thể! Tháng trước, Hai tui có đọc sách nghiên cứu về tánh lì, thấy nói rằng người lì là người kém thông minh, chậm hiểu, cố chấp, giáo điều, độc đoán, không có sáng kiến, đầu óc khép kín, khư khư giữ lấy những điều xưa cũ như trái đất... Đúng sai, Hai tui không có khả năng xét đoán, chỉ nói lại để độc giả nghe chơi rồi bỏ qua.

Đời cũng như đạo, ở hoài một chỗ ắt có điều không hay xảy ra. Tổ chức giáo hội Hoa Kỳ có cái hay là không để một linh mục nào trông coi một giáo xứ quá hai nhiệm kỳ, dù được giáo dân quí mến muốn lưu giữ lại. Đi truyền giáo đâu thể ngồi lì một chỗ được!

Ở Việt Nam trước đây, tên của linh mục chánh xứ trở thành tên nhà thờ như nhà thờ cha Xoài, cha Bưởi, nhà thờ cha Tám, cha Chín... dù nhà thờ nào cũng có tên thánh hẳn hòi. Cha coi xứ đạo quá lâu, giáo dân nhớ ơn, đồng hóa tên cha với tên nhà thờ cho dễ nhớ và cũng để làm đẹp lòng cha. Cha quyên góp tiền, xây cất xong nhà thờ, nghĩ rằng nhờ công mình mà có nên xem đó là nhà thờ của mình, rồi cứ muốn làm cha ở đó đến hơi thở cuối cùng. Xem nhà Chúa là nhà mình thì không thể tránh khỏi hủ hóa. Cha xứ mới bắt đầu giảng mà giáo dân ngồi dưới đã đoán biết phần cha sắp nói tới rồi. Cha giảng mặc cha, giáo dân cứ mong cho mau xong, không còn chú ý lắng nghe. Lễ nhà thờ mất hết ý nghĩa, lòng đạo trở nên nhợt nhạt và chỉ có hình thức. Bởi đó mà chẳng mấy ai cần biết Công Đồng Vaticano II là gì. Phần cha đã vậy thì giáo dân con cái cũng noi gương, bắt chước. Có nhiều người làm ông trùm mãn đời hay đến khi không còn được cha cố tin cậy mới thôi! Làm trùm một xứ đạo ở Việt Nam, nhất là xứ đạo Bắc, thì phải biết, quyền hành chỉ kém thua cha sở. Đôi khi ông cũng muốn nghỉ làm trùm vì tuổi già, sức yếu, nhưng bà trùm không chịu, không cho. Ông mất chức thì bà đâu còn gì để nở mặt, nở mày với thiên hạ. Chức vụ tượng trưng cho quyền hành. Hết chức thì hết quyền, không còn ngồi mâm cao cỗ đầy được nữa. Hồi còn ở Việt Nam, Hai tui biết ông trùm một xứ đạo, tuổi đã lớn. Ông làm trùm khá lâu. Khi biết tin cha xứ thương cho nghỉ việc, ông nhuốm bịnh cả tuần, khiến cha xứ phải mời ông ở lại làm cố vấn! Hai tui khoái xem các phim cao bồi vì người hùng trong các phim này, sau khi dẹp tan băng đảng cướp, vãn hồi trật tự, an ninh cho dân chúng đã lẳng lặng, âm thầm ra đi, không màng danh lợi, chức tước, quyền hành. Anh đi đến một nơi khác đang còn rối ren, bất ổn, dân chúng bị hà hiếp, bóc lột đang cần anh giúp. Xong rồi lại ra đi nữa. Cứ thế. Hai tui thương mến và quí trọng cha Piô Ngô Phúc Hậu ở Cà Mau là vì lẽ đó. Ước gì các môn đệ chọn con đường theo Chúa Yêsu, đều có tinh thần “không chịu ở yên một chỗ” đó, lúc nào cũng đang trên đường đi truyền giáo hay sẵn sàng lên đường. Trách vụ của nhà truyền giáo là đi đến nơi nào chưa có ánh sáng của Tin Mừng để rao giảng cho muôn dân, những người chưa biết đạo, không phải cứ bám trụ sửa sang nhà thờ và truyền giáo cho... người tín hữu giáo dân ! Muốn thế thì phải từ bỏ những chằng chịt, vướng bận để phong trần nhẹ gánh. Chính vì lẽ ấy mà Chúa Yêsu đã dạy những môn đệ theo Người: Muốn theo Thầy, các con phải từ bỏ tất cả!

Là con chiên thì không nên lì. Chủ chiên không muốn mình ở trong đàn nữa thì... liệu mà cao chạy xa bay để khỏi bị... vạ tuyệt thông. Một số giáo dân Việt Nam ở vài tiểu bang miền Bắc Hoa Kỳ được cha xứ nhắc khéo nhiều lần trên tòa giảng mà vẫn chưa “tiếp thu” được ý ngài. Chúa Nhật nào cũng xuất hiện, đi dự lễ ở nhà thờ. Đó là lì... cùng mình, chỗ nào cũng lì, cũng còn gọi là... lạnh lì , tức là lì do thời tiết lạnh mà ra. Lì tới mức cỡ này thì dù được cha chánh xứ ưu ái gởi thơ bảo đảm biểu mình đừng đi nhà thờ nữa... cũng vẫn cứ đi, cứ lì. Xin ngã nón, cúi đầu tôn làm sư phụ!

Mấy tháng trước, Hai tui nghe một cha chánh xứ Việt Nam mình khuyên bảo các “người thân cận”: Muốn phục vụ Chúa phải biết lì. Ai nói gì mặc kệ, mình thấy đúng thì cứ làm, cứ lì ra! Lời khuyên này đã được một giáo dân hồ hởi hưởng ứng làm bài thơ “Lì vì Chúa.” Làm sao biết được ý mình là ý Chúa? Ý cha luôn luôn là ý Chúa, giáo dân cấp dưới phải ngoan ngoãn, tuyệt đối phục tùng? Nay cha sửa sang chỗ này cho đẹp, mai cha mở rộng chỗ kia cho tiện nghi, thoải mái, mốt cha đòi làm lại chỗ nọ cho phù hợp với tinh thần Vaticano II (cha chỉ nhắc đến Công Đồng Vaticano II khi kêu giáo dân đóng góp tiền để sửa sang)... Phần mình là giáo dân, vật mọn phàm hèn, cha biểu sao làm vậy, vâng lời đóng góp để cha “ làm lịch sử ,” danh cha cả sáng với bề trên và đồng nghiệp. Kinh tế suy thoái, thất nghiệp tiếp tục gia tăng, ngân sách giáo xứ hàng năm chi nhiều hơn thu, quyên góp tiền giáo dân để sửa sang nhà thờ, làm công trình tốn hơn nửa triệu đô-la mà phải chờ “ 10 năm sau mới thấy hữu dụng ” như lời cha tuyên bố; và trong thời gian 10 năm chờ đợi, giáo xứ phải chi phí bảo trì hàng năm... Đó là tài lãnh đạo sáng suốt với sự nhìn xa, thấy rộng (vision)? Giáo dân không được góp ý vì cha là cha chánh xứ, là người lãnh đạo. Nhưng đó là ý cha dưới đất hay ý Cha trên trời? Trong đời sống đức tin, rao giảng Tin Mừng, làm việc Chúa, phục vụ cộng đoàn, giáo xứ mà cũng cần phải... lì là nghĩa làm sao? Người lãnh đạo nghĩ mình sáng suốt hơn mọi người, một mình quyết định mà không cần bàn thảo, hỏi ý kiến ai là cung cách lãnh đạo không còn xứng hợp với tâm thức con người hiện nay, đời cũng như đạo, và chắc chắn cũng không còn thích hợp với đường hướng của Giáo Hội sau Công Đồng Vaticano II. Phải gan... cùng mình mới dám tuyên bố... ẩu “Giáo Hội theo thể chế quân chủ” (chuyên chế?). Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã dùng hình ảnh chính mình làm mẫu mực để con người được tốt lành, thánh thiện. Để đáp lại, con người ngày nay cũng dùng hình ảnh của chính mình với những mơ ước, đam mê trần thế để tô vẽ lại một Thiên Chúa khác... rất người! Chẳng thế mà người tín hữu Anthony de Mello đã phải thốt lên: “ Những gì người ta nói về Thiên Chúa trên tòa giảng đã làm hoen ố hình ảnh đích thực của Ngài.”

“Nhưng ai là người thân cận của tôi?” (Lc 10:29). Những người tin cậy, gọi dạ bảo vâng hay những người dám nói lên những điều sai quấy? Giáo dân trong họ đạo hay ngoài giáo xứ? Chỉ những người trong đạo hay còn gồm cả những người ngoại đạo? Đồng chí hay luôn kẻ thù? Chúa ở khắp mọi nơi hay Chúa chỉ ngự trong nhà thờ, nơi nhà tạm lộng lẫy? Không lẽ ngoài nhà thờ ra, không còn chỗ nào khác để phục vụ tha nhân, loan báo Tin Mừng? Thật khó tưởng tượng được hiện nay vẫn còn có linh mục hùng dũng tuyên bố trên tòa giảng: Không thể có Ơn Cứu Chuộc ngoài giáo hội, không thể có Ơn Cứu Độ ngoài cộng đoàn, giáo xứ vì cộng đoàn, giáo xứ là giáo hội thu hẹp; không tham gia hoạt động trong giáo xứ, cộng đoàn thì không cần đi lễ nhà thờ, vì việc đi lễ đó không có giá trị, ý nghĩa gì hết (đe dọa, đuổi đi, hay chỉ là một phương cách truyền giáo mới?)... Nếu người nghe giảng là giáo dân Hoa Kỳ, liệu linh mục có dám nói những lời đó không? Tại sao vẫn có nhiều linh mục tiếp tục giảng dạy những điều không còn đúng, những điều mà Giáo hội và đặc biệt đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lô II đã làm sáng tỏ từ lâu? Hoặc là khi dễ giáo dân không biết gì hết, tưởng mình đang làm cha xứ một họ đạo vùng quê hẻo lánh ở Việt Nam trước đây, rồi tự tung tự tác, hoặc chính người rao giảng không cập nhật hóa sự hiểu biết đạo, đời của mình? Hay là trong thành phần linh mục vẫn có người không hề nghe biết, hoặc không chấp nhận những cải tổ của giáo hội Chúa qua Công Đồng Vaticanô II, nhất là vai trò của giáo dân trong việc truyền giáo? Chúa đâu bảo các môn đệ theo Người “ Hãy đứng giữa nhà thờ, cung thánh truyền giáo cho giáo dân bổn đạoh ,” nhưng Chúa dạy “Các con hãy đi khắp thiên hạ rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc. 16:15).

Viết về “lì” thì phải viết hoài, viết mãi, viết không được ngừng, vì ngừng là hết lì. Rất tiếc HCR tui tuy cũng lì, nhưng chưa đạt tới mức lì lợm thượng thừa đó nên đành phải chấm dứt nơi đây. Xin hẹn dịp khác để tiếp tục... nếu lì còn lên cơn hành hạ...  

 

 

"..Go into whole world and proclaim the gospel to every creature(MK 16:15)"
For question or comments please write to Dan Than magazine

"copyright © 2006"

Dan Than Magazine, P.O Box 5474 Katy, Texas 77491-5474
For questions about this site contact our Webmaster